Cách chữa viêm phổi

Viêm phổi hít và viêm phổi do hít phải các chất độc thường là dịch dạ dày vào phổi. Viêm phổi do hoá chất, viêm phổi do vi khuẩn hoặc tắc nghẽn đường thở có thể xảy ra. Các triệu chứng bao gồm ho và khó thở. Chẩn đoán dựa trên hình thái lâm sàng và đặc điểm XQ phổi Điều trị và tiên lượng khác nhau tùy vào chất hít.

(Xem thêm Tổng quan về Viêm phổi Tổng quan về Viêm phổi Viêm phổi là tình trạng viêm cấp tính của phổi do nhiễm trùng. Chẩn đoán ban đầu thường dựa trên chụp X quang phổi và các dấu hiệu lâm sàng. Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, các biện pháp... đọc thêm .)

Hít phải có thể gây viêm phổi (viêm phổi do hóa chất), nhiễm trùng (viêm phổi do vi khuẩn Tổng quan về Viêm phổi Viêm phổi là tình trạng viêm cấp tính của phổi do nhiễm trùng. Chẩn đoán ban đầu thường dựa trên chụp X quang phổi và các dấu hiệu lâm sàng. Nguyên nhân, triệu chứng, điều trị, các biện pháp... đọc thêm hoặc là Áp xe phổi Áp xe phổi Áp phổi là một nhiễm trùng phổi hoại tử được đặc trưng bởi một tổn thương dạng hang chứa mủ. Nó thường gây ra bởi sự hít dịch tiết vùng miệng ở những bệnh nhân suy giảm ý thức. Triệu chứng bao... đọc thêm

), hoặc là tắc nghẽn đường thở Bệnh nguyên (Xem thêm Suy hô hấp , Khó thở, và Thiếu oxy.) Ngừng thở và ngừng tim là khác nhau, nhưng chắc chắn nếu không được điều trị, cái này sẽ dẫn đến cái kia. Sự ngừng trao đổi khí ở phổi > 5 phút... đọc thêm . Tuy nhiên, phần lớn các quá trình hít gây ra các triệu chứng tối thiểu hoặc viêm phổi hơn là nhiễm trùng hoặc tắc nghẽn, và một số bệnh nhân không để lại hậu quả gì sau khi hít phải. Đuối nước Đuối nước Đuối nước là tình trạng suy hô hấp do bị chìm trong môi trường lỏng. Nó có thể không tử vong (trước đây gọi là gần chết đuối) hoặc tử vong. Đuối nước gây ra tình trạng thiếu oxy, có thể làm... đọc thêm cũng có thể là nguyên nhân gây viêm phổi.

Các yếu tố nguy cơ gây viêm phổi hít bao gồm:

  • Rối loạn ý thức hoặc hôn mê

  • Rối loạn nuốt (ví dụ xảy ra sau một số cơn đột quỵ hoặc các bệnh thần kinh khác)

  • Nôn

  • Các thiết bị và thủ thuật đường tiêu hóa (ví dụ, đặt sonde dạ dày)

  • Thủ thuật nha khoa

  • Các thiết bị và thủ thuật hô hấp (ví dụ: đặt ống khí quản- xem Viêm phổi liên quan đến thở máy Viêm phổi liên quan đến thở máy Viêm liên quan thở máy (VAP) phát triển ít nhất 48 giờ sau khi đặt ống nội khí quản. Các mầm bệnh phổ biến nhất là trực khuẩn gram âm và Staphylococcus aureus; vi khuẩn kháng kháng sinh là một... đọc thêm )

  • Bệnh trào ngược dạ dày thực quản

Sinh lý bệnh

Viêm phổi do hóa chất

Nhiều chất gây độc trực tiếp đến phổi hoặc kích thích phản ứng viêm khi hít; axit dạ dày là chất thường gặp nhất, nhưng những loại khác bao gồm các sản phẩm dầu mỏ (đặc biệt có độ nhớt thấp, chẳng hạn như dầu ăn mỡ) và dầu nhuận tràng (như khoáng chất, dầu thầu dầu và dầu paraffin), tất cả đều gây ra viêm phổi lipid (lipoid pneumonia). Hít phải khí đốt và dầu hỏa cũng gây ra viêm phổi hóa học (xem "Ngộ độc Hydrocarbon Ngộ độc Hydrocacbon Ngộ độc hydrocarbon có thể là do uống phải hoặc hít phải. Do uống, phổ biến nhất ở trẻ em 5 tuổi, có thể dẫn đến viêm phổi sặc. Do hít, phổ biến nhất ở thanh thiếu niên, có thể dẫn đến rung... đọc thêm ).

Thành phần dịch dạ dày gây tổn thương chủ yếu là axit dạ dày, mặc dù thức ăn và các chất nuốt phải khác (ví dụ, than hoạt tính như trong điều trị ngộ độc) cũng có thể gây tổn thương. Axit dạ dày gây ra sự đốt cháy hóa học của đường thở và phổi, dẫn đến co thắt phế quản đột ngột, xẹp phổi Xẹp phổi Xẹp phổi là hiện tượng xẹp nhu mô phổi đi kèm với giảm thể tích. Bệnh nhân có thể bị khó thở hoặc suy hô hấp nếu xẹp phổi lớn Họ cũng có thể bị viêm phổi. Xẹp phổi thường không có triệu chứng... đọc thêm

, phù phổi và xuất huyết phế nang. Hội chứng này có thể tự phục hồi, thông thường trong vòng vài ngày, hoặc có thể tiến triển thành hội chứng suy hô hấp cấp tính. Đôi khi xảy ra sự bội nhiễm vi khuẩn.

Hít phải Dầu hoặc thạch dầu gây ra viêm phổi lipid ngoại sinh, có đặc trưng mô học bởi viêm u hạt mạn tính có xơ hóa.

Viêm phổi hít

Người khỏe mạnh thường hít một lượng nhỏ chất bài tiết từ miệng, nhưng các cơ chế phòng vệ bình thường làm sạch vi khuẩn mà không có di chứng. Hít phải với lượng lớn hơn, hoặc ở bệnh nhân suy giảm hàng rào bảo vệ, thường gây ra viêm phổi và / hoặc áp xe phổi Áp xe phổi Áp phổi là một nhiễm trùng phổi hoại tử được đặc trưng bởi một tổn thương dạng hang chứa mủ. Nó thường gây ra bởi sự hít dịch tiết vùng miệng ở những bệnh nhân suy giảm ý thức. Triệu chứng bao... đọc thêm

. Bệnh nhân cao tuổi có khuynh hướng bị sặc vì các đặc điểm tuổi tác làm thay đổi ý thức, như sử dụng an thần và các rối loạn (ví dụ rối loạn thần kinh, suy nhược). Mủ màng phổi (xem "Tràn dịch màng phổi Tràn dịch màng phổi là tích tụ dịch trong khoang màng phổi. Có nhiều nguyên nhân gây ra và thường được phân loại là dịch thấm hoặc dịch tiết. Được phát hiện qua thăm khám và chụp X-quang ngực... đọc thêm
") hiếm khi là biến chứng của viêm phổi hít

Các mầm bệnh đường ruột Gram âm và các vi khuẩn kỵ khí ở miệng là nguyên nhân thường gặp nhất gây ra viêm phổi do hít.

Triệu chứng và Dấu hiệu

Triệu chứng và dấu hiệu bao gồm:

  • Ho

  • Sốt

  • Khó thở

  • Tức ngực

Viêm phổi do hóa chất gây ra bởi dịch dạ dày gây khó thở cấp tính cùng với ho đôi khi có đờm lẫn bọt hồng, thở nhanh, nhịp tim nhanh, sốt, ran nổ lan tỏa và ran rít. Khi hít phải dầu hoặc thạch dầu, viêm phổi có thể không có triệu chứng và phát hiện vô tình trên XQ ngực hoặc có thể biểu hiện với sốt nhẹ, gầy sút cân và ran nổ.

Chẩn đoán

  • X-quang ngực

Đối với viêm phổi do hít, chụp X quang ngực cho thấy hình ảnh thâm nhiễm, tổn thương này thường gặp nhưng không phải là duy nhất, ở các phân thùy phổi phụ thuộc, ví dụ phân thùy đỉnh hoặc đáy sau của thùy dưới hoặc phân thùy sau ở thùy trên Đối với áp xe phổi liên quan tới hít, chụp X-quang ngực có thể có tổn thương hang. CLVT có thuốc cản quang có độ nhạy và đặc hiệu hơn cho áp xe phổi và cho thấy một tổn thương hang chứa đầy dịch hoặc có mức nước hơi. Ở bệnh nhân viêm phổi do hít dầu hoặc thạch từ dầu hỏa, hình ảnh XQ ngực khác nhau; đông đặc, tạo hang, thâm nhiễm kẽ hoặc nốt, tràn dịch màng phổi, và các thay đổi khác có thể tiến triển chậm.

Các dấu hiệu của việc hít tái diễn có thể bao gồm việc làm sạch cổ họng thường xuyên hoặc ho khò khè sau khi ăn. Đôi khi không có dấu hiệu nào, hít tái diễn chỉ được chẩn đoán thông qua chụp thực quản cải tiến có barium được thực hiện để loại trừ rối loạn nuốt.

Điều trị

  • Kháng sinh

Điều trị hỗ trợ thường là bổ sung oxy và thông khí cơ học. Thuốc kháng sinh (beta-lactam / ức chế beta-lactamase hoặc clindamycin) thường được dùng cho bệnh nhân có chứng hít dịch dạ dày đã xác định hoặc đã biết vì có khó khăn trong việc loại trừ nhiễm khuẩn là yếu tố góp phần hay ban đầu ; tuy nhiên, nếu không có thâm nhiễm phát triển sau 48 đến 72 giờ, thuốc kháng sinh có thể được ngừng lại.

Cần tránh các chất độc tiềm ẩn. Một số báo cáo cho thấy các corticosteroid toàn thân có thể có lợi trong điều trj bệnh nhân hít phải dầu.

Đối với viêm phổi do hít , các hướng dẫn của Hiệp hội Các bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) khuyến cáo sử dụng beta-lactam / ức chế beta-lactamase, clindamycin, hoặc carbapenem. Một số ví dụ bao gồm clindamycin 600 mg IV mỗi 8 giờ (sau đó là 300 mg đường uống 4 lần/ngày) và amoxicillin / clavulanate 875 mg IV mỗi 12 giờ. Thời gian điều trị thường từ 1 đến 2 tuần.

Điều trị áp xe phổi Điều trị Áp phổi là một nhiễm trùng phổi hoại tử được đặc trưng bởi một tổn thương dạng hang chứa mủ. Nó thường gây ra bởi sự hít dịch tiết vùng miệng ở những bệnh nhân suy giảm ý thức. Triệu chứng bao... đọc thêm

bằng thuốc kháng sinh và đôi khi bằng dẫn lưu qua da hoặc phẫu thuật.

Phòng ngừa

Các chiến lược để ngăn ngừa viêm phổi hít là rất quan trọng đối với chăm sóc và kết quả lâm sàng chung. Đối với bệnh nhân suy giảm ý thức, tránh ăn và dùng thuốc qua đường miệng, nâng cao đầu giường > 30 độ có thể giúp ích. Thuốc an thần nên dừng lại. Bệnh nhân bị chứng khó nuốt (do đột qụy or hoặc các tình trạng thần kinh khác) có thể cần chế độ ăn với các kết cấu đặc biệt để giảm nguy cơ viêm phổi do hít. Chuyên gia trị liệu ngôn ngữ có thể hướng dẫn bệnh nhân các phương pháp luyện tập cụ thể (bài tập gập cằm, vv) để giảm nguy cơ hít sặc. Đối với bệnh nhân bị chứng khó nuốt nghiêm trọng, mở thông dạ dày hoặc tá tràng qua da thường được áp dụng, mặc dù phương pháp này có thực sự làm giảm nguy cơ hít phải hay không còn chưa rõ ràng.

Tối ưu hóa vệ sinh răng miệng và chăm sóc thường xuyên của nha sĩ có thể giúp ngăn ngừa sự phát triển của bệnh viêm phổi hoặc áp xe ở bệnh nhân hít tái diễn.

Những điểm chính

  • Bệnh nhân bị viêm phế nang do hít và viêm phổi do hít phải được kiểm tra về rối loạn nuốt.

  • Viêm phổi hít nên được điều trị bằng kháng sinh; điều trị viêm phổi hít không có nhiễm khuẩn chủ yếu là điều trị hỗ trợ.

  • Phòng ngừa hít phải bằng nhiều phương pháp khác nhau là một thành phần quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân.