Cao to đen hôi nghĩa là gì

Giới thiệu về cuốn sách này

Xã hội đen hoặc thế giới ngầm là từ lóng ám chỉ thế lực bất minh tồn tại trong xã hội. Biệt ngữ này được cho là phát sinh từ điện ảnh Hồng Kông rồi du nhập Việt Nam vào thập niên 1980, sau đó thành sinh ngữ và đến nay đã là một từ phổ biến, kể cả trên báo chí, văn học, và xã giao.

Xã hội đen có nhiều cấp bậc khác nhau. Trong đó cấp thấp nhất là dân anh chị, dao búa, đầu gấu, đâm thuê chém mướn... không có tổ chức, đến cao cấp hơn là tội phạm có tổ chức thành các băng đảng và trên cùng là trùm mafia, các gia đình mafia.

Với tính chất là tội phạm có tổ chức, có sự cạnh tranh địa bàn làm ăn, cạnh tranh bảo kê, cạnh tranh ảnh hưởng,v.v. nên giữa các băng đảng xã hội đen thường có sự thanh toán nhau và được các thế lực kinh tế - xã hội (kể cả hợp pháp và không hợp pháp) thuê để triệt hạ đối thủ.

Theo cơ quan điều tra tại Nha Trang, từ tháng 10/2005 - 7/2006, tổ chức tội phạm nguy hiểm ở Nha Trang do Hà "lê" (tức Võ Quảng Hà) và Nguyễn Ngọc Thành Hạnh (tức Hạnh "Nhật", sinh năm 1974) cầm đầu đã gây ra nhiều vụ đâm chém nghiêm trọng, đặc biệt là vụ hàng chục tên được trang bị mã tấu, súng bắn cá đến một cơ sở mát xa trên đường Hùng Vương, thành phố Nha Trang; đuổi đánh nhân viên, đập phá tài sản; vụ án thuê chém ông Võ Đình Thu, Tổng thư ký Hiệp hội Du lịch Khánh Hòa với giá 50 triệu đồng.[1] Tuy vậy, trong suốt nhiều năm, các băng nhóm xã hội đen ở Khánh Hòa lại trở nên lộng hành. Nhiều vụ án thậm chí còn tấn công cả cảnh sát đã xảy ra nhưng vẫn chưa được xử lý triệt để.[2]

Ghi nhận ở Quảng Ninh cho thấy, trong nhiều năm, trên địa bàn tỉnh này đã xuất hiện một băng nhóm tội phạm có tổ chức với sự tham gia của khoảng gần 100 đối tượng. Với các vũ khí phổ biến là mã tấu, dao, kiếm... chúng đã gây ra hàng loạt vụ cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, cưỡng đoạt tài sản công dân, gieo rắc nỗi khiếp sợ cho người dân.[3]

Tại Hải Phòng, gần đây liên tiếp xảy ra những vụ đấu súng kiểu xã hội đen [4] và nổi tiếng là liều lĩnh và hung bạo.[5]

Tại Hà Nội, gần đây nạn bắt cóc trẻ em vị thành niên để hiếp dâm hay ép bán dâm cũng tăng vọt và nhiều vụ án không thể điều tra.[6] Trong số đó, nổi tiếng có vụ án băng nhóm My "sói" [7] hoặc người có quyền, có tiền thuê xã hội đen nhằm đánh đập đòi nợ.[8][9] Trước đây, đầu thập niên 1990, tại Hà Nội đã có vụ án băng nhóm Khánh Trắng là nỗi kinh hoàng của người dân nhiều năm.[10] Ngày nay, xã hội đen còn táo tợn đe dọa đến chính quyền địa phương.

Trung Quốc

Tại Trung Quốc, quốc gia đông dân nhất thế giới, Bộ Công an Trung Quốc cũng thừa nhận rằng có hiện tượng "quan phỉ cấu kết" hay sự toa rập giữa cán bộ và nhân viên nhà nước với xã hội đen đã xuất hiện tại một số khu vực. Tháng Giêng năm 2006, Bộ Công an Trung Quốc cũng công bố các số liệu chính thức cho thấy những vụ rối loạn xã hội có dính líu tới 15 người trở lên đã từ 74.000 vụ của năm 2004 tăng lên tới 87.000 vụ trong năm 2005. Theo một số các nhà quan sát tình hình Trung Quốc, tệ nạn quan - phỉ (xã hội đen) cấu kết đang làm cho sự bất mãn của dân chúng ở nông thôn ngày càng gia tăng và đe dọa tới sự ổn định của quốc gia đông dân nhất thế giới này.[11]

Malaysia

Xã hội đen ở Malaysia là một thế lực thực thụ. Họ sinh sống bằng nhiều nghề nghiệp, trong đó có đâm thuê chém mướn, cho vay nặng lãi, bảo kê gái điếm làm tiền, buôn bán thuốc lắc...[12]

  • Trùm xã hội đen
  • Giang hồ
  • Tội phạm có tổ chức
  • Mafia
  • Yakuza
  • Hội Tam Hoàng

  1. ^ Nha Trang: Trùm "xã hội đen" Hà "lê" tự thú
  2. ^ “Khánh Hòa: xã hội đen lộng hành”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2008.
  3. ^ Quảng Ninh: Băng nhóm "xã hội đen" hoành hành
  4. ^ Hải Phòng: Liên tiếp các vụ đấu súng kiểu xã hội đen
  5. ^ loạt bài Giang hồ đất Cảng
  6. ^ Nhóm phóng viên Pháp luật (29 tháng 11 năm 2010). “Vụ việc một cháu gái bị bắt cóc, xâm hại: Đang làm rõ các đối tượng liên quan”. Báo Pháp luật & Xã hội. Truy cập 23 tháng 3 năm 2013.
  7. ^ 14 tuổi cầm đầu nhóm cướp, ép bán dâm
  8. ^ Bắt cóc con nợ, tra tấn bằng điện giữa Hà Nội
  9. ^ Thuê xã hội đen bắt cóc, đánh đập đòi nợ
  10. ^ Loạt bài Nỗi ám ảnh mang tên Khánh "trắng"
  11. ^ Hiện tượng xã hội đen cấu kết với quan chức chính phủ Trung Quốc
  12. ^ Xã hội đen ở Malaysia

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Xã_hội_đen&oldid=66753704”

Đạo Cao Đài hay Cao Đài giáo là một tôn giáo độc thần được thành lập ở Miền Nam Việt Nam vào năm 1926.[1] Tên gọi Cao Đài theo nghĩa đen chỉ "một nơi cao", nghĩa bóng là nơi cao nhất ở đó Thượng đế ngự trị; cũng là danh xưng rút gọn của Thượng đế trong tôn giáo Cao Đài, vốn có danh xưng đầy đủ là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Để tỏ lòng tôn kính, một số các tín đồ Cao Đài thường tự gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời.

Cao to đen hôi nghĩa là gì
Đạo Cao Đài

Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra các tôn giáo và cả vũ trụ này. Tất cả giáo lý, hệ thống biểu tượng và tổ chức đều được "Đức Cao Đài" trực tiếp chỉ định. Và đạo Cao Đài chính là được Thượng đế trực tiếp khai sáng thông qua Cơ bút cho các tín đồ với nhiệm vụ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (chữ Hán: 大道三期普度)[1], có nghĩa là Nền đạo lớn cứu khổ lần thứ Ba.

Cao to đen hôi nghĩa là gì

Đạo kỳ

Cao Đài là một tôn giáo mới, dung hợp nhiều yếu tố từ các tôn giáo lớn, gồm cả Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo, Thần Đạo và cả một số tôn giáo đa thần thời cổ đại, thể hiện qua Ngũ Chi Đại Đạo. Thậm chí tôn giáo này còn thờ phụng một số nhà chính trị, nhà văn cận đại mà họ gọi là "Tam thánh đứng đầu Bạch Vân Động", bao gồm Tôn Dật Tiên, Victor Hugo và Nguyễn Bỉnh Khiêm (xem Tam Thánh ký hòa ước). Các tín đồ thi hành những giáo điều của Đạo như không sát sinh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành lánh dữ, giúp đỡ xung quanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên, và thực hành tình yêu thương vạn loại qua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọi người, đưa mọi người về với Thượng đế nơi Thiên giới và mục tiêu tối thượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi. (Thuyết thần trí)

Tuy được khai sinh chính thức vào năm 1926, có nguồn nói rằng đạo Cao Đài khởi nguồn vào đêm Giáng Sinh năm 1925 trong lúc tình trạng nước Việt Nam đang rất hỗn độn.[1] Cao Đài nhanh chóng phát triển về quy mô và số lượng tín đồ. Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ, dẫn thống kê năm 2010 của các tổ chức Cao Đài thì có khoảng hơn 2,4 triệu tín đồ[2], còn theo Thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam cũng trong năm 2009 thì số người tự xem mình là tín đồ Cao Đài tại Việt Nam là 807.915 người,[3] cũng có nguồn ghi hơn 5 triệu[4]. Về mặt tổ chức đạo Cao Đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 3 vạn chức việc với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận. Trên toàn quốc có 35/38 tỉnh thành đạo Cao Đài hoạt động với 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự (hàng năm có khoảng 4000 tín đồ mới nhập môn vào đạo Cao Đài)[2]. Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc. Theo trang thông tin và truyền giáo Cao Đài hải ngoại, số tín đồ Cao Đài là khoảng 5 triệu[5]

Lịch sử của đạo Cao Đài gắn liền với sự phổ biến Cơ bút tại Việt Nam đầu thế kỷ XX. Có thể nói, Cơ bút là nền tảng căn bản cũng như mọi yếu tố liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Cao Đài từ quá khứ đến hiện tại, từ việc thu nhận tín đồ, phong chức sắc, ban hành luật đạo, các nghi thức cúng tế, phẩm phục, kinh điển, thậm chí đến các thiết kế cơ sở thờ tự cũng được thông qua bởi hình thức Cơ bút.

Hai hình thức Cơ bút ảnh hưởng đến sự ra đời của tôn giáo Cao Đài là thuật Xây (xoay) Bàn (la table tournante) theo thuyết Thông linh học (Spiritisme) của Allan Kardec đến từ Pháp, và Đại ngọc cơ (大玉機) xuất xứ từ Trung Quốc.

Những môn đồ đầu tiên

Các tài liệu về tôn giáo Cao Đài đều thừa nhận người được xem là tín đồ đầu tiên của đạo là ông Ngô Minh Chiêu. Là một viên chức trong chính quyền thực dân Pháp, vốn chịu ảnh hưởng của Minh Sư đạo, một nhánh của Tam giáo, thường sử dụng hình thức cơ bút để giao tiếp với giới thần tiên, trong những năm 1921 đến 1924, ông đã thông qua các cơ bút để hình thành những nền tảng đầu tiên của đạo Cao Đài và truyền bá cho nhóm bạn hữu công chức tại Sài Gòn, nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi một nhóm tu tập tịnh luyện, chứ chưa phát triển thành một Tôn giáo.

Cùng giai đoạn này, một nhóm công chức gốc Tây Ninh làm việc trong chính quyền thực dân Pháp khác ở Sài Gòn, chịu ảnh hưởng của phong trào Thông linh học[6] gồm Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang và Phạm Công Tắc, thường xuyên tổ chức cầu cơ ở đường Arras[7]. Do các thành viên ban đầu mang họ Cao và họ Phạm, nên còn được gọi là nhóm Cao - Phạm. Nhóm còn có một thành viên nữ là bà Nguyễn Thị Hiếu, tức Hương Hiếu, vợ ông Cao Quỳnh Cư. Nhóm này cũng được cho là tiếp xúc với Thượng đế qua danh hiệu AĂÂ vào khoảng tháng 7 năm 1925[8]. Nhóm cũng độc lập xây dựng nền tảng giáo lý riêng và cũng phát triển thêm nhiều người, quan trọng nhất là việc thu nhận thêm ông Lê Văn Trung, cựu Nghị viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, người có giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển đạo Cao Đài.

Hợp nhất khai đạo

Qua các liên hệ cá nhân, giữa các nhóm hầu cơ bắt đầu có sự liên hệ hợp nhất. Ngày 21 tháng 2 năm 1926, một bài thơ được lưu truyền là cơ giáng của Thượng đế, trong đó có tên của 13 người, về sau được tín đồ Cao Đài xưng tụng là những tín đồ đầu tiên của đạo, với tên ông Ngô Văn Chiêu được tôn xưng Anh Cả. Kể từ đó, những nền tảng giáo lý của Cao Đài được bổ túc và hoàn thiện dần. Chỉ trong mấy tháng, số lượng tín đồ nhanh chóng phát triển lên mấy trăm người. Một đàn cơ quy mô được thành lập ở Cầu Kho [9], về sau hình thành nên Thánh thất Cầu Kho.

Việc phát triển số lượng tín đồ nhanh chóng đòi hỏi phải có người lãnh đạo với quyền vị chính thức. Vì vậy, giữa cuối tháng 4 năm 1926, thông qua việc giáng cơ, các tín đồ đầu tiên đã tôn xưng ông Chiêu là Giáo tông và may sẵn bộ đạo phục riêng cho ông. Tuy nhiên, ông Chiêu từ chối ngôi vị Giáo tông, do những bất đồng trong việc hình thành giáo hội[10], và từ đó không tham gia cũng như không có liên quan gì đến các hoạt động phát triển của giáo hội Cao Đài.

Để có tư cách chính thức với chính quyền thực dân, ngày 7 tháng 10 năm 1926, các tín đồ gởi đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol một bản tuyên cáo khai đạo bằng tiếng Pháp với chữ ký của 28 tín đồ có địa vị cao nhất trong xã hội, kèm theo tờ khai tịch đạo của 245 tín đồ. Sau đó, các tín đồ tổ chức 3 nhóm truyền đạo khắp Nam Kỳ. Và ngày Rằm tháng 10 năm Bính Dần (tức ngày 19 tháng 11 năm 1926), các tín đồ Cao Đài đã tổ chức Đại lễ Khai Đạo tại chùa Gò Kén, còn gọi là Thiền Lâm Tự, Tây Ninh và ra mắt Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (tổ chức Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài) với sự hiện diện của quan chức chính quyền của cả người Pháp lẫn người Việt và đồng bào các giới.

Thăng trầm nền đạo

Tuy vậy, giữa các tín đồ đã xuất hiện những quan điểm bất đồng về cách thức tu tập, tổ chức giáo hội, hoặc do những mục đích cá nhân, cũng dần tách ra để hình thành các nhánh Cao Đài độc lập. Một số nhánh thành lập tổ chức giáo hội (Hội Thánh), một số khác hoạt động độc lập, cũng không thành lập tổ chức giáo hội. Ngoài ra, còn một số tổ chức của các tín đồ Cao Đài mang tính chất đoàn thể cũng được thành lập.

Lý giải cho hiện tượng này, các tín đồ Cao Đài tin rằng việc hình thành các nhánh Cao Đài khác nhau đã được Thượng đế tiên tri ngay từ lúc sơ khai chưa chính thức lập thành Cao Đài giáo, sẽ hình thành 12 nhánh Cao Đài. Tuy nhiên, với các nhà nghiên cứu, trong đó có cả tín đồ, số lượng các nhánh Cao Đài khác nhau tùy theo thời điểm chứ không cố định là 12 phái. Theo thời gian, các nhánh Cao Đài diễn ra nhiều cuộc chia tách, sáp nhập, thống kê trong lịch sử có hơn 30 tông phái khác nhau[11]. Rất nhiều nỗ lực hoạt động để thống nhất giáo hội nhưng đều bất thành do những chỉ trích và trở ngại từ nhiều phía, kể cả giữa các tín đồ.

Trong cơn động loạn của dân tộc

Sự phân chia các hệ phái không làm giảm tốc độ phát triển tín đồ trái lại càng mau chóng gia tăng số lượng tín hữu, Cao Đài nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng lớn ở Nam Kỳ, thậm chí phát triển ra cả ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ và cả Cao Miên. Các lãnh đạo Cao Đài đều là những người có học thức, có địa vị xã hội và rất có ảnh hưởng đến dân chúng. Vì vậy, Cao Đài luôn là đối tượng hoặc lôi kéo, hoặc đả kích của các thế lực nắm chính quyền.

Người Pháp ra tay trước tiên. Một tôn giáo có tổ chức và có nhiều khả năng lôi kéo quần chúng đe dọa đến sự cai trị của chính quyền thực dân. Dưới áp lực của thực dân Pháp, các chỉ dụ cấm đạo ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Campuchia và Lào đã được ban hành. Đỉnh điểm, ngày 28 tháng 6 năm 1941, lo ngại việc một tôn giáo hoạt động mạnh ở Sài Gòn và phụ cận có thể rơi vào ảnh hưởng của người Nhật, bấy giờ đã xâm nhập Đông Dương và ra sức lôi kéo các nhóm tôn giáo, chính trị người Việt ủng hộ Chính sách Đại Đông Á, chính quyền thực dân Pháp bất ngờ tấn công vào các tín đồ Cao Đài, bắt giữ Hộ pháp Phạm Công Tắc và đày đi Madagascar. Nhiều chức sắc Cao Đài khác cũng bị bắt giam hoặc quản thúc. Tòa Thánh Tây Ninh bị chiếm đóng. Nhiều thánh thất Cao Đài các cũng bị chiếm đóng hoặc phá hủy.

Cả người Nhật lẫn Việt Minh đều tranh thủ ra sức lôi kéo các nhóm Cao Đài. Do sự vận động của các cán bộ Việt Minh, một nhóm các chức sắc Cao Đài, nòng cốt ở các phái Tiên Thiên, Ban Chỉnh Đạo và Minh Chơn Đạo, đã bí mật thành lập Hội Cao Đài Cứu Quốc. Hội hoạt động chủ yếu ở các vùng xa ở Tây Nam Bộ, bí mật tập hợp lực lượng trên nền tảng Thanh niên Đạo đức đoàn dưới sự lãnh đạo của Cao Triều Phát cố vấn Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ, có xu hướng chống cả Pháp lẫn Nhật. Người Nhật thì can thiệp mở lại Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại việc Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh), người tạm thời thay mặt Hộ pháp Phạm Công Tắc lãnh đạo các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh, tập hợp các tín đồ hợp tác với quân đội Nhật để chống Pháp. Khá đông tín đồ Cao Đài được tuyển làm nhân công của xưởng đóng tàu Nichinan của quân đội Nhật tại Nam Bộ. Một lực lượng bán vũ trang Cao Đài được ra đời với tên gọi Nội ứng nghĩa binh, dưới danh nghĩa được Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập để liên minh với Nhật Bản.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng bán vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp tại Sài Gòn. Bên cạnh đó, ngày 24 tháng 6 năm 1945, được sự hậu thuẫn của Hội Cao Đài Cứu Quốc, một đại hội các hệ phái Cao Đài (không có Tòa Thánh Tây Ninh) được tổ chức tại Sài Gòn, thành lập tổ chức Cao Ðài Hiệp Nhứt 11 Phái và bầu ông Cao Triều Phát làm Chủ tịch. Trong Cách mạng tháng Tám, nhiều nhóm bán vũ trang Cao Đài đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc và tham gia giành chính quyền ở khắp Nam Bộ.

Sau khi giành được chính quyền cuối tháng 8 năm 1945, nhiều chức sắc Cao Đài được chính quyền Việt Minh mời ra tham chính. Tại Tây Ninh, một tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là ông Trương Văn Xương được mời làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh, một chức sắc Cao Đài thuộc Tòa Thánh Tây Ninh khác là Giáo sư Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) được mời làm cố vấn.

Khi Pháp tái chiếm Nam Bộ, các nhóm lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham chiến tại các mặt trận số 1 và số 2, chiến đấu ở mặt Đông và Bắc Sài Gòn. Sau khi vào Nam, đặc phái viên Trung ương Nguyễn Bình đã tổ chức hội nghị An Phú Xã, thống nhất tổ chức các đơn vị vũ trang thành các chi đội Vệ Quốc đoàn. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được tổ chức thành 2 chi đội số 7 do Nguyễn Thanh Bạch chỉ huy và chi đội số 8 do Nguyễn Hoài Thanh chỉ huy.

Tuy nhiên, trước sức mạnh của quân Pháp, các mặt trận nhanh chóng tan vỡ. Nhiều đơn vị vũ trang tan rã, hoặc trở thành những lực lượng quân phiệt cát cứ, không chịu sự chỉ huy thống nhất. Một số chức sắc cao cấp và chỉ huy quân sự Cao Đài đã đưa lực lượng của mình rút về Tây Ninh và xây dựng các căn cứ để bảo vệ Tòa Thánh Tây Ninh. Hành động cát cứ này là lý do để các phần tử Việt Minh lên án các tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh là phản bội. Một vài cuộc xung đột đẫm máu đã nổ ra bắt nguồn từ những tín đồ Cao Đài và các phần tử Việt Minh. Chi đội số 7 và số 8 do Cao Đài chỉ huy bị Việt Minh tước khí giới trong những vụ bắt giữ. Hàng chục tín đồ Cao Đài bị chết trong các trận đánh với Việt Minh, nhiều nhất tại tỉnh Quảng Ngãi (miền Trung) và Trung Lập (miền Nam).[12] Giáo sư Thượng Vinh Thanh (Trần Quang Vinh) cũng bị bắt tại Chợ Đệm và bị giải giam tại Cà Mau cùng với Giáo sư Hồ Văn Ngà, Chủ tịch Việt Nam Độc lập Đảng.[12]

Nắm được sự mâu thuẫn này và để tranh thủ thêm đồng minh trong cuộc chiến chống Việt Minh, chính quyền Pháp cho phép Hộ pháp Phạm Công Tắc trở về Tòa Thánh Tây Ninh, đổi lại các tín đồ Cao Đài sẽ không tấn công người Pháp và được quân Pháp bảo trợ. Thậm chí, chính quyền Pháp còn cho phép các lãnh thổ do Tòa Thánh Tây Ninh kiểm soát có quyền tự trị. Lực lượng vũ trang Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh được chính quyền Pháp bảo trợ và trang bị vũ khí, do Trung tướng Trần Quang Vinh làm Tổng tư lệnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Thành làm Tham mưu trưởng[13], có vai trò như một lực lượng bổ sung (Forces supplétives), hỗ trợ quân Pháp trong các chiến dịch tấn công Việt Minh.

Bất đồng với sự hợp tác này, một số chức sắc Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tham gia kháng chiến đã gia nhập Cao Đài Cứu Quốc, mở rộng thành Cao Ðài Cứu Quốc 12 phái Hiệp Nhứt. Các lực lượng vũ trang của Cao Đài Cứu Quốc được tập hợp thành Trung đoàn 124, chiến đấu cho đến hết cuộc Kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Việt Minh. Phản ứng trước việc này, lãnh đạo Tòa Thánh Tây Ninh tuyên bố trục xuất các chức sắc và tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh nào tham gia Cao Đài Cứu Quốc.

Hợp tan - Tan hợp

Sau năm 1954, tổ chức Cao Đài Cứu Quốc tuyên bố giải thể. Các phái liên hiệp trước đây trở về sinh hoạt riêng rẽ. Một số chức sắc tập kết ra Bắc, hình thành Hội Thánh Duy Nhất thuần túy sinh hoạt tôn giáo dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại miền Nam, Tòa Thánh Tây Ninh dưới sự hậu thuẫn của người Pháp đã trở thành Hội Thánh Cao Đài lớn nhất, đại diện cho cả tôn giáo Cao Đài, có quân đội riêng, có ảnh hưởng chính trị mạnh, đã trở thành cái gai lớn thời Quốc gia Việt Nam dưới Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Để dẹp các trở ngại trong việc thâu tóm quyền lực, Thủ tướng Diệm đã mua chuộc, gây chia rẽ trong nội bộ, và cuối cùng tấn công lực lượng quân đội Cao Đài, buộc Hộ pháp Phạm Công Tắc phải lưu vong sang Campuchia cho đến ngày ông liễu đạo.

Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh chỉ được công nhận trở lại tại miền Nam từ năm 1965 theo sắc lệnh Số 3 ngày 12 Tháng Bảy của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia.[14] Sang thời Đệ Nhị Cộng hòa của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, các tín đồ chỉ thuần túy sinh hoạt tôn giáo, không nên can thiệp vào chính trị, vì vậy các tổ chức Cao Đài không còn ảnh hưởng mạnh đến chính trị và xã hội như trước.

Các tín đồ Cao Đài một lần nữa phải chịu thử thách khi những người Cộng sản nắm quyền kiểm soát toàn bộ Việt Nam. Nhiều chức sắc Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh bị chính quyền mới buộc tội là đã cộng tác với những kẻ thù, thậm chí đã tham gia chống đối chính quyền mới. Năm 1979, một Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được thành lập, đại diện cho giáo hội, đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền. Các tổ chức, hệ phái Cao Đài khác cũng là đối tượng công kích khi bị chính quyền mới buộc tội mê tín dị đoan. Các hoạt động tôn giáo hoàn toàn bị hạn chế, chỉ giới hạn những sinh hoạt trong nhóm nhỏ tín đồ.

Hiện nay

 

Tòa Thánh Tây Ninh

 

Thánh thất Đa Phước tại Đà Lạt

 

Thánh thất tại New South Wales - Úc

Cùng với chính sách mở cửa của chính quyền Việt Nam, các tôn giáo, trong đó có cả Cao Đài giáo cũng hoạt động dễ dàng hơn. Tòa Thánh Tây Ninh được mở cửa lại cho các hoạt động tôn giáo lớn của hàng triệu tín đồ, thậm chí được xem như một điểm di tích tham quan du lịch nổi tiếng của Việt Nam. Từ năm 1995 đến 2011, chính quyền bắt đầu công nhận các tổ chức tôn giáo Cao Đài như những tổ chức hợp pháp, gồm 9 Hội Thánh Cao Đài, 1 tổ chức giáo hội Cao Đài Việt Nam (Bình Đức), 1 Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi và 18 tổ chức Cao Đài hoạt động độc lập. Ước tính hiện tại, toàn đạo có khoảng gần 3 triệu tín đồ trong cả nước, sinh hoạt tại 38 tỉnh thành, tập trung chủ yếu ở Nam Bộ. Ngoài ra, có khoảng 30.000 tín đồ nữa sống ở Hoa Kỳ, Canada, Campuchia, Châu Âu và Úc.

Các tổ chức giáo hội[15] Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân[16] xếp theo số lượng tín đồ:

  1. Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh: là tổ chức Hội Thánh Cao Đài nguyên thủy, được thành lập năm 1926, và cũng là Hội Thánh lớn nhất, là đại diện của tôn giáo Cao Đài, với hơn 2,5 triệu tín đồ, 400 Họ đạo với 387 Thánh thất, 145 Điện thờ Phật mẫu, phân bổ trong 39 tỉnh thành trong cả nước.[17] Khoảng 3 vạn tín đồ đang cư trú tại nước ngoài như Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc, Campuchia. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tây Ninh. Được Việt Nam công nhận pháp nhân hai lần, lần thứ nhất vào ngày 12 tháng 7 năm 1965 dưới thời Việt Nam Cộng hòa[18] và lần thứ 2 được công nhận vào ngày 9 tháng 5 năm 1997 dưới thời Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Tây Ninh (phường Long Hoa, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh).
  2. Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ hai, được thành lập năm 1934, quản lý hơn 80 vạn tín đồ, với hơn 299 thánh thất ở 25 tỉnh thành. Một số lượng nhỏ tín đồ cư trú tại nước ngoài. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Bến Tre. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân ngày 8 tháng 8 năm 1997. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Bến Tre (phường 6, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre).
  3. Hội Thánh Cao Đài Tiên Thiên: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ ba, được thành lập năm 1932, quản lý hơn 8 vạn tín đồ, với hơn 127 thánh tịnh ở rải rác 15 tỉnh thành. Là Hội Thánh Cao Đài được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân sớm nhất vào ngày 29 tháng 7 năm 1995. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Châu Minh (xã Tiên Thủy, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).
  4. Hội Thánh Truyền giáo Cao Đài: là tổ chức giáo hội Cao Đài lớn thứ tư, được thành lập năm 1956, quản lý gần 1,5 vạn tín đồ, với 61 thánh thất nằm rải rác 17 tỉnh thành. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Quảng Nam, Đà Nẵng. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 24 tháng 9 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Trung Hưng Bửu Tòa (phường Thạch Thang, quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng).
  5. Hội Thánh Cao Đài Minh Chơn Đạo: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ năm, được thành lập năm 1935, quản lý 47 thánh thất phân bổ trong 4 tỉnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Cà Mau. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 2 tháng 8 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Ngọc Sắc (xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau).
  6. Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ sáu, được thành lập năm 1931, quản lý khoảng 1 vạn tín đồ trên khắp 32 tỉnh, thành phố trực thuộc hệ thống 38 tỉnh, thành có cơ sở thờ tự Cao Đài, với 30 thánh thất và các trường quy[19]. Địa bàn có đông tín đồ nhất là tỉnh Tiền Giang, địa phương có nhiều thánh thất nhất là tỉnh Long An. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 14 tháng 3 năm 2000. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Chơn Lý (xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang)
  7. Hội Thánh Cao Đài Cầu Kho Tam Quan: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ bảy, được thành lập năm 1960, quản lý 33 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Bình Định. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 28 tháng 4 năm 2000. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Cầu Kho Tam Quan (xã Tam Quan, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định).
  8. Hội Thánh Cao Đài Chiếu Minh Long Châu: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ tám, được thành lập năm 1956, quản lý 16 thánh tịnh. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Hậu Giang, Cần Thơ. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 27 tháng 7 năm 1996. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Long Châu (xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang).
  9. Hội Thánh Bạch Y Liên Đoàn Chơn Lý: là tổ chức giáo hội Cao Đài đứng thứ chín, được thành lập năm 1955, quản lý 14 thánh sở. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Kiên Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 8 tháng 7 năm 1998. Trung ương Hội Thánh đặt tại Tòa Thánh Ngọc Kinh (xã Mông Thọ B, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang).

Ngoài ra còn 2 tổ chức Cao Đài cũng được công nhận tư cách pháp nhân là:

  1. Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi là một tổ chức pháp nhân đại diện của các tín đồ Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh[20], thành lập năm 1926, quản lý 8 cơ sở và khoảng 6.000 tín đồ. Địa bàn có đông tín đồ nhất tại Cần Thơ và Hậu Giang. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 26 tháng 4 năm 2010. Trị sở trung ương đặt tại Thánh Đức Tổ đình (phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ).
  2. Giáo hội Cao Đài Việt Nam Bình Đức: là một tổ chức giáo hội Cao Đài, được thành lập vào năm 1961, quản lý có 9 cảnh, 6 thánh thất, 16 cảnh Trường qui với hơn 2.300 tín đồ ở các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Thành phố Hồ Chí Minh[21]. Được nhà nước Việt Nam công nhận pháp nhân vào ngày 17 tháng 7 năm 2011. Trung ương giáo hội đặt tại Thiên Tòa Hoàng Đạo (xã Bình Đức, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

Đạo Cao đài có nhiều hệ phái; mỗi phái lập Giáo hội riêng. Đa số các phái của đạo Cao đài xây dựng giáo hội theo Pháp Chánh truyền - Tân Luật. Trong phạm vi bài viết này, sẽ tìm hiểu tổ chức Giáo hội theo Pháp Chánh truyền - Tân Luật của hệ phái Cao đài Tây Ninh (là một hệ phái có số lượng tín đồ đông nhất trong các hệ phái Cao đài hiện nay). Theo quy định của đạo Cao đài, ở cấp Trung ương sẽ có ba đài, gồm: Bát quái đài (phần vô hình); Hiệp thiên đài và Cửu trùng đài (phần hữu hình). Đi sâu vào tìm hiểu được biết:

  • 1. Bát Quái đài (phần vô hình) là nơi thờ phượng của đạo gồm các vị Thánh, Thần, Tiên, Phật do Lý Thái Bạch (còn gọi là Lý Đại Tiên) thay mặt Thượng Đế làm chưởng quản.
  • 2. Hiệp Thiên đài  vừa là cơ quan lập pháp vừa là cơ quan tư pháp. Về mặt lập pháp, thông thường trước khi ban hành những điều về nội dung tôn giáo hoặc liên  quan đến xã hội, Hiệp Thiên đài tổ chức cầu cơ hiệp thông với Đấng Thiêng liêng để được chỉ giáo. Đứng đầu Hiệp Thiên đài là chức Hộ pháp. Dưới hộ Pháp sẽ có hai chức: Thưởng phẩm và Thượng Sanh. Dưới 2 chức này sẽ có 12 vị thời quân (thường gọi là thập nhị thời quân) thuộc 3 chi: Pháp - Đạo- Thế, cụ thể: Chi pháp do Hộ pháp trực tiếp phụ trách, chuyên lo về Luật pháp, gồm có 4 chức sắc trong 12 vị thời quân là: tiếp pháp, khai pháp, bảo pháp, hiến pháp; Chi Đạo do Thượng phẩm trực tiếp phụ trách, chuyên lo về việc hành đạo, gồm có 04 chức sắc trong 12 vị thời quân là: tiếp đạo, khai đạo, bảo đạo, hiến đạo; Chi Thế do Thượng sanh trực tiếp phụ trách, chuyên  lo việc đào tạo huấn luyện, kế thừa nền đạo, gồm có 4 chức sắc trong 12 vị thời quân là: tiếp thế, khai thế, bảo thế và hiến thế. Dưới 3 chi Pháp - Đạo - Thế sẽ có các cơ quan giúp việc như: Bộ Chánh pháp với các chức sắc như: Luật sư, Sỹ tải, Truyền trạng, Thừa sử, Giám đạo, Cải trạng, Chưởng ấn, Tiếp dẫn đạo nhân; Hàn Lâm viện với 12 chức sắc chuyên môn còn gọi là thập nhị bảo quân gồm: Bảo sanh quân, bảo tinh quân, bảo cơ quân, bảo văn pháp quân, hảo huyền linh quân, bảo vật quân, bảo học quân, bảo y quân, bảo sỹ quân, bảo nông quân, bảo công quân, bảo thương quân.

Đạo Cao Đài từ năm 1997 đến nay không có Hiệp Thiên Đài.

  • 3. Cửu Trùng đài là cơ quan hành pháp gồm có 09 viện: Hộ - Lương- Công,  Học - Y - Nông, Hòa - Lại- Lễ. Chức sắc của Cửu Trùng đài chia ra làm 3 ngành gồm:  Thái (thuộc Phật), Thượng (thuộc Lão), Ngọc (thuộc Nho); mỗi ngành nắm 03 viện, cụ thể: Ngành Thái nắm ba viện Hộ - Lương- Công; ngành Thượng nắm ba viện Học - Y - Nông; ngành Ngọc nắm 03 viện Hòa - Lại- Lễ. Đứng đầu Cửu Trùng đài là chức Giáo tông, tương đương với chức Thủ tướng hoặc Tổng thống. Trong  Cửu Trùng đài, hàng ngũ chức sắc có 09 bậc (gọi là cửu phẩm), mỗi bậc có một số lượng nhất định, được chia đều cho 3 ngành, sắp xếp theo hàm phẩm bậc cao thấp như sau: Giáo tông 1 vị, Chưởng pháp 3 vị, Đầu sư 3 vị, Phối sư 36 vị, Giáo sư 72 vị, Giáo hữu 3.000 vị, Lễ sanh không có hạn định, dưới Lễ sanh là Chánh Trị sự, Phó Trị sự (Trong pháp Chánh truyền có ghi bài Cơ bút nói về hàng chức sắc Cửu trùng đài: "Nhất Phật" (Giáo tông), "Tam tiên" (có 3 đầu sư), "tam thập lục thánh (36 phối sư); "Thất thập nhị hiền"  (72 giáo sư); "Tam thiên đồ đệ" (3000 giáo hữu). Để giám sát việc hành pháp của Cửu trùng đài, Hiệp thiên đài đã đặt ra một số chức sắc của mình trong hệ thống Cửu trùng đài. Đó là chức Chưởng pháp ở giữa chức Giáo tông và chức Đầu sư. Ngược lại cũng để giám sát công việc của Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài đặt hai chức thượng phẩm, thượng sanh giữa hộ pháp và thập nhị thời quân). Khi đạo Cao đài bắt đầu phát triển mạnh, nhất là thời kỳ dưới chế độ Sài Gòn, những người lãnh đạo đạo Cao đài Tây Ninh còn cho lập ra nhiều tổ chức như: Hội phước thiện làm nhiệm vụ từ thiện xã hội; Ban thế đạo, Cơ thánh vệ, Cơ bảo mật, Cơ bảo thể, Cơ bảo phòng... làm nhiệm vụ an ninh trật tự, bảo mật và các cơ quan văn hóa xã hội như: báo chí, nhà xuất bản, nhà in, hệ thống giáo dục từ Tiểu học đến đại học, đài Phát thanh, bệnh viện, cô nhi viện, viện dưỡng lão và các cơ sở y tế, công thương nghiệp... Việc duy trì quyền lực của lãnh đạo Giáo hội đạo Cao đài được duy trì và thực hiện theo chế độ "tam viên" là:  Hội nhơn sanh, Hội thánh và Thượng hội, trong đó: Hội Nhơn sanh bao gồm đại biểu tín đồ được cử từ các Họ đạo; Hội Nhơn sanh họp mỗi năm một lần vào rằm tháng bảy; Hội thánh bao gồm phẩm chức sắc từ Giáo hữu đến Chánh phối sư của Cửu trùng đài và các chức phẩm tương đương của Hiệp thiên đài; Hội thánh mỗi năm họp một lần vào rằm tháng mười; Thượng hội gồm các chức sắc từ phẩm Đầu sư trở lên của Cửu trùng đài và các chức phẩm tương đương của Hiệp Thiên đài. Thượng hội mỗi năm họp một lần vào rằm tháng giêng. Bên cạnh đó còn có Hội Vạn linh gồm đại biểu của Hội Nhơn sanh, Hội thánh và Thượng hội. Hội vạn linh họp bất thường để giải quyết những công việc trọng đại của đạo và bầu giáo tông (nếu khuyết). Hội Vạn linh được coi là ngang quyền với Đức chí tôn tại thế.

 

Nghi lễ Cao Đài

 

Cao Đài là một tôn giáo lớn tuy đã hơn 100 năm hình thành và phát triển, tuy nhiên lại được xem là một tôn giáo "trẻ" do có tính dung hợp các tôn giáo lớn và lâu đời tại Việt Nam, mà chủ yếu là Tam giáo. Nhiều khái niệm cũng như hình thức của các tôn giáo lớn đều có thể thấy biểu hiện một phần tại triết lí giáo của Cao Đài.

Khác với hầu hết các tôn giáo có nguồn gốc lâu đời thường phủ nhận các tôn giáo khác, các tín đồ Cao Đài chấp nhận có tôn giáo khác và những tôn giáo đó hình thành nền tôn giáo Cao Đài. Họ lý giải đấy chính là ý đồ của Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và địa điểm cụ thể, và tôn giáo Cao Đài chính là "tôn giáo duy nhất do Thượng đế lập ra ở lần thứ 3 và là lần cuối cùng" để phổ độ cho chúng sinh, không còn phân biệt tôn giáo, dân tộc hay ở bất kỳ nơi nào trên thế giới nữa. Chính vì vậy, điểm đặc biệt trong tôn giáo Cao Đài là sự tôn trọng tín ngưỡng và phong tục, không ép buộc tín đồ phải từ bỏ hoặc hạn chế các hoạt động liên quan đến tín ngưỡng hay phong tục cổ truyền của mình.

Tuy nhiên, với tư cách là một tôn giáo bảo vệ truyền thống, Cao Đài là một tôn giáo có những quy định rất chặt chẽ, cứng rắn. Tuy được xem là một tôn giáo trẻ và phát triển rất nhanh ở giai đoạn khai đạo, Cao Đài lại có những yêu cầu khắt khe về tính truyền thống, ít có sự cải sửa thay đổi nhằm bảo vệ tối đa những nét đặc trưng của tôn giáo mình. Chính điều này đã làm cho Cao Đài trở thành một trong 2 tôn giáo đặc thù của vùng Nam Bộ.

Phương Đông

Phật giáo

Phật giáo là một tôn giáo lớn tại Việt Nam nên có ảnh hưởng lớn đến tôn giáo Cao Đài. Một số nhân vật Phật giáo cũng được tôn thờ trong đạo Cao Đài như Phật Nhiên Đăng Cổ, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc. Pháp môn Tuyển độ của chi phái Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp môn Thiền của Phật giáo Thiền tông.

Phái Thái, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái của Hội Thánh Cao Đài, được xem là tượng trưng của Phật đạo trong Đại đạo Cao Đài, với đạo phục màu vàng tượng trưng cho áo cà sa của các nhà sư.

Lão giáo

Chịu ảnh hưởng rất lớn từ Minh Sư đạo, một nhánh của Thiên Sư đạo, có thể nói vũ trụ quan của Cao Đài gần sát với vũ trụ quan của Lão giáo. Phương pháp cơ bút để các đấng vô hình truyền dạy, các con số linh thiêng như 1 (Thiên Nhãn), 2 (Lưỡng nghi), 3 (Tam giáo), 4 (tứ tượng), 5 (Ngũ chi), 8 (Bát Quái), 9 (Cửu Trùng), 12 (Thời Quân),...... đều chịu ảnh hưởng rất lớn từ Lão giáo. Một số nhân vật trong Lão giáo cũng được tôn thờ như Lão Tử...

Trong tổ chức Hội Thánh, vị trí Bát Quái Đài là khu vực thiêng liêng nhất, chỉ dành cho các vị tiên trưởng vô hình, được xem như là nơi lập pháp của đạo. Hầu hết các văn bản pháp luật đạo, được các tín đồ tin là được giáng cơ từ Bát Quái Đài. Trong tổ chức Nam phái, cách đặt tên các phái cũng chịu ảnh hưởng từ Tam Thanh trong Lão giáo với biến cải đôi chút; thậm chí, phái Thượng, một trong 3 phái của Nam phái, cũng được xem là đại diện cho Lão giáo, với đạo phục màu xanh tượng trưng cho y phục các đạo sĩ. Vai trò của phái Thượng còn được đề cao khi trong tổ chức Hội Thánh Cửu Trùng Đài, chức phẩm của phái Thượng được xem là cao hơn so với 2 phái còn lại. Người giữ ngôi vị Thượng Chưởng pháp được quy định có thể thay mặt cho chức vị Giáo tông để chủ trì công việc của Cửu Trùng Đài.

Thần Giáo

Thần giáo là một tôn giáo tại Nhật Bản và Trung Hoa là một trong những cấp bậc trong tôn giáo Cao Đài. Đức Khương Thượng Tử Nha đứng đầu và lập ra Thần Giáo bên Trung Hoa.

Nho giáo

Cũng như Phật giáo và Lão giáo, Nho giáo cũng được xem là có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Nho giáo là nền đạo đầu tiên trong đạo Cao Đài được đề xướng qua triết lý Nho tông chuyển thế. Nếu như Lão giáo ảnh hưởng nhiều về mặt vũ trụ quan và cách thức tu tập thì Nho giáo ảnh hưởng rất nhiều về cách thức hành lễ. Đại diện cho Nho giáo là Khổng Tử và Mạnh Tử trong Bát Quái Đài.

Trong tổ chức Hội Thánh Cao Đài, phái Ngọc, một trong 3 phái trong tổ chức Nam phái Cửu Trùng Đài, được xem là tượng trưng của Nho giáo, với đạo phục màu đỏ.

Tín ngưỡng dân gian

Có thể nói tín ngưỡng dân gian Nam Kỳ đã có ảnh hưởng rất lớn đến đạo Cao Đài. Hầu hết các hoạt động tôn giáo của đạo Cao Đài chú trọng đến các nghi lễ trong gia đình liên quan đến phong tục truyền thống của người Việt ở Nam Kỳ như cưới hỏi, tang ma, cầu siêu… Những nghi lễ ấy mặc dù được tổ chức theo nguyên tắc và triết lý của đạo Cao Đài, nhưng lại không quá xa lạ với phong tục truyền thống của người Việt. Hơn nữa, các nghi lễ này đều được tổ chức quy củ, có sự tham gia đông đảo của chức sắc, chức việc và đạo hữu, làm không khí trong các buổi lễ trở nên trang trọng, tôn nghiêm[22]. Mặt khác, rất dễ nhận thấy nhạc lễ Cao Đài (đặc biệt là Đại đàn) mang đậm văn hóa truyền thống Việt Nam với cung cách đi trò lễ, nhạc cổ truyền trong các buổi lễ tại đình, miếu dân gian.

Ngũ chi Minh đạo

Ngũ chi Minh đạo (chữ Hán: 五支明道) là một thuật ngữ trong tôn giáo Cao Đài dùng để chỉ các nhánh tôn giáo phát triển từ Minh Sư đạo, một tôn giáo có sự tương hợp gần nhất với đạo Cao Đài, có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển của đạo Cao Đài.

Cao Đài Từ điển định nghĩa như sau:

"Ngũ Chi Minh Đạo là năm nhánh Đạo có tên khởi đầu bằng chữ MINH, có nguồn gốc từ nhà Minh bên Tàu.

Ngũ Chi Minh Đạo gồm: Minh Sư, Minh Đường, Minh Lý, Minh Thiện, Minh Tân."

— Nguyễn Văn Hồng, "Cao Đài Từ điển", mục Ngũ Chi Minh Đạo

Trong lịch sử, một số nhánh của Ngũ chi Minh đạo sáp nhập vào với đạo Cao Đài như tông Phổ tế của Minh Sư, hoặc Minh Tân, Minh Đường. Một số không còn tồn tại như Minh Thiện, hoặc vẫn phát triển độc lập như Minh Sư đạo, Minh Lý đạo.

Phương Tây

Thiên Chúa Giáo

Thiên Chúa Giáo bấy giờ đã phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam dưới sự bảo hộ của chính quyền thực dân Pháp và thực dân Anh đã từ bỏ việc xâm chiếm Việt Nam để chuyển hướng sang Xiêm, Singapore. Người Anh thừa hiểu rằng dù Việt Nam ở góc độ Kinh tế, Chính trị, Quốc phòng thì Việt Nam luôn gắn liền với Trung Quốc. Tuy nhiên, với các tín đồ Cao Đài đầu tiên, vốn là những người có tinh thần dân tộc, sự dung nạp Cơ Đốc giáo thể hiện một chừng mực không va chạm với truyền thống. Chính vì vậy, hình tượng Jesus của Cơ Đốc giáo được xem là biểu trưng của Thánh đạo, một chi đạo trong Ngũ chi Đại đạo.

Hồi giáo

Giai đoạn khai đạo Cao Đài cũng chính là giai đoạn Hồi giáo phát triển mạnh mẽ trong các cộng đồng dân tộc Người Champa, Người Khmer, Người Lào, Người Xiêm, Miến, Người Java và Người Ấn Độ ở cả Trung Kỳ lẫn Nam Kỳ, dưới sự bảo trợ của chính quyền thực dân. Mặc dù vậy, Hồi giáo lại không được nhắc đến trong đạo Cao Đài, và hiện diện với tư cách là một tôn giáo có dung hợp từ Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo, cũng thuộc chi Thánh đạo trong Ngũ chi Đại đạo.

Thông linh học

Thông linh học (Spiritisme) tuy chỉ mới từ châu Mỹ thâm nhập vào châu Âu nửa cuối thế kỷ XIX, tuy nhiên, với sự xuất tác phẩm "Cuốn sách của linh hồn" (tiếng Pháp: Le livre des esprits) ngày 1 tháng 4 năm 1857 bởi Allan Kardec, Thông linh học đã trở thành đối tượng tìm hiểu và nghiên cứu về tính chất triết lý của nó. Ngoài ra còn có quan điểm Thần giáo tự nhiên.

Sự ảnh hưởng của Thông linh học đã ảnh hưởng ít nhiều đến sinh hoạt tâm linh của những tín đồ đầu tiên, vốn có kiến thức Tây học. Trong đó, quan trọng nhất là nhóm môn đồ Cao - Phạm, nền tảng hình thành Hội Thánh Cao Đài sau này.

Các tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là Đấng sáng lập ra vũ trụ và hình thành nên các tôn giáo. Theo thời gian, tùy theo địa phương, Thượng đế đã hình thành các tôn giáo khác nhau để phù hợp với thời điểm và địa điểm, và được phân làm 3 kỳ phổ độ với ba nhánh khác nhau:

  • Nhất kỳ Phổ độ: Là thời kỳ hình thành các tôn giáo trên thế giới gồm Phật giáo, Kì Na giáo ở Ấn Độ, Lão giáo, Nho giáo ở Trung Hoa, Do Thái giáo ở Trung Đông. Thời kỳ này Thượng đế mặc khải cho các đệ tử đầu tiên thay mặt mình để truyền đạo.
  • Nhị kỳ Phổ độ: Là thời kỳ chấn hưng các nền tôn giáo trên thế giới. Các tín đồ Cao Đài cho rằng sau một thời gian phổ độ, các giáo lý được Thượng đế truyền dạy theo thời gian đã bị các tín đồ diễn giải sai lạc, không còn mang đúng giáo lý nguyên thủy của Ngài. Vì vậy, Thượng đế một lần nữa đã truyền dạy cho các đệ tử của mình ở các nơi trên thế giới, thực hiện hiện vụ chấn hưng nền đạo. Từ đó hình thành Phật giáo Đại thừa, Phật giáo Tiểu thừa, Jaina giáo, Tiên giáo, Khổng Mạnh giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Thời kỳ này các tôn giáo được chấn hưng và phát triển mạnh mẽ, vượt ra khỏi ranh giới vùng miền quốc gia, dần truyền bá ra thế giới.
  • Tam kỳ Phổ độ: Là thời kỳ tất cả các tôn giáo đều hợp thành một tôn giáo duy nhất dưới quyền cai quản Thượng đế, được Thượng đế điều hành, truyền giảng thông qua hình thức cơ bút. Đây cũng là lý do một số tín đồ gọi tôn giáo của họ là "Đạo Thầy" với hàm ý họ là những người thọ giáo trực tiếp từ Thượng đế.

Tam giáo quy nguyên Cao Đài

 

Ảnh Cao Đài Tam Thánh ở Tòa Thánh Tây Ninh. Từ trái sang phải: Tôn Dật Tiên, Victor Hugo và Nguyễn Bỉnh Khiêm

Khái niệm cơ bản, thể hiệp sự dung hợp các tôn giáo hình thành nên đạo Cao Đài được gọi là "Tam giáo quy nguyên" (Ba tôn giáo sẽ hợp về một mối). Theo họ, ở thời kỳ phổ độ lần thứ 3, các tôn giáo lớn sẽ hợp nhất giáo lý thành một nền Đại Đạo duy nhất và được truyền bá bằng tiếng Việt[23]

Bên cạnh đó, khái niệm "Ngũ chi phục nhất" (Năm nhánh đạo sẽ trở thành một nền đạo lớn) được đi kèm với "Tam giáo quy nguyên", với cùng ý nghĩa. Theo đó, "Ngũ chi" hàm chỉ các tôn giáo trên toàn thế giới, kể cả Tam giáo, thực chất cũng chỉ là năm nhánh đạo (con đường) gồm Nhơn đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo. Năm nhánh này thể hiện năm nấc thang tiến hóa từ thấp lên cao trong quá trình tu tập của các tín đồ, dù theo hướng nào thì cũng quy về một mối.[24]

Thiên nhãn

 

Bàn thờ thiên nhãn

Quan điểm của các tín đồ Cao Đài thì Thiên Nhãn biểu trưng cho Thượng đế.

Ngoài ra, biểu tượng Thiên nhãn còn ý thức Đại đồng, vì dù bất cứ quốc gia, chủng tộc, hoặc tôn giáo nào, thì biểu tượng Thiên nhãn đều giống nhau và không phản ảnh đặc tính phân biệt nào.

 

Bên trong Tòa Thánh Tây Ninh

Đạo Cao Đài nhấn mạnh sự bình đẳng giữa các tín đồ, giữa nam và nữ trong xã hội. Khi xưng hô với nhau, tín đồ Cao Đài sử dụng các từ "huynh', "đệ", "tỷ", "muội" (tức là anh chị em một nhà), tùy theo giáo phẩm, tuổi tác, giới tính. Khi kính cẩn, họ còn thêm "Hiền" phía trước những đại từ nhân xưng trên ("hiền huynh", "hiền tỷ"...).

Một Tộc đạo Cao Đài có 2 cơ thể thờ tự là "Thánh thất" và "Điện thờ Phật Mẫu". Mỗi Tộc đạo đều có chương trình truyền bá giáo lý.

  • Ngô Văn Chiêu, môn đồ đầu tiên của Cao Đài, người hình thành Pháp môn Cao Đài Chiếu Minh.
  • Lê Văn Trung, chức phẩm Thượng Đầu sư (1926), Quyền Giáo tông (1930), lãnh đạo tín đồ Cao Đài từ 1926 đến 1934.
  • Phạm Công Tắc, chức phẩm Hộ pháp, Chưởng quản Hiệp Thiên Đài Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (1926) và Chưởng quản Nhị hữu hình đài Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh (1934), lãnh đạo tối cao của đạo Cao Đài từ 1934 đến 1959.
  • Cao Hoài Sang, chức phẩm Thượng Sanh. Lãnh đạo tôn giáo Cao Đài từ năm 1959 đến năm 1971. Là người có công san định và thống nhất các bài bản nhạc lễ Cao Đài đến chỗ hoàn thiện nhất.
  • Nguyễn Ngọc Tương, chức phẩm Quyền Thượng Đầu sư - cầm giềng mối đạo Cao Đài. Năm 1934, ly khai Tòa Thánh Tây Ninh về Bến Tre thành lập Ban Chỉnh Đạo, sau này gọi là Cao Đài Ban Chỉnh Đạo, được đại hội vạn linh công cử lên phẩm Giáo tông.
  • Cao Triều Phát, nhập đạo năm 1930, sáng lập hệ phái Minh Chơn Đạo, được bầu làm Chủ tịch Cao Đài Cứu quốc Mười hai phái hiệp nhất, được bầu làm Chưởng quản Cửu Trùng đài Hội Thánh Cao Đài Duy Nhứt.
  • Trần Quang Vinh, chức phẩm Thượng Phối sư, quyền lãnh đạo các tín đồ Cao Đài 1941-1946, Trung tướng, Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội Cao Đài (1946-1951).
  • Nguyễn Văn Thành (1915-1972), Trung tướng, Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài 1951-1955.
  • Nguyễn Thị Hiếu, Nữ Đầu Sư chánh vị đầu tiên, Chưởng quản Cửu Trùng Đài nữ phái, tác giả quyển "Đạo sử".
  • Lê Văn Hoạch, phẩm vị Bảo Sanh Quân Tòa Thánh Tây Ninh, Thủ tướng Cộng hòa tự trị Nam Kỳ từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 9 năm 1947.
  • Nguyễn Văn Lộc, phẩm vị Bảo Học Quân Tòa Thánh Tây Ninh, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa từ tháng 11 năm 1967 đến đầu năm 1968.
  • Phan Khắc Sửu, chức phẩm Thượng Đầu Sư hệ phái Cao Đài Tiên Thiên, Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa giai đoạn 1964–1965.
  • Nguyễn Văn Ngợi, chức phẩm Ngọc Đầu Sư hệ phái Cao Đài Tiên Thiên, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
  • Hồ Tấn Khoa, chức phẩm Bảo đạo, Quyền chưởng quản Hiệp Thiên Đài Tòa Thánh Tây Ninh (1976-1979). Chưởng quản Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (1979-1983).
  • Lâm Văn Thời chức phẩm Quyền Thượng Đầu sư,Chưởng quản Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Bến Tre
  • Thánh thất Cao Đài

  1. ^ a b c “Đạo Cao Đài”. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2012. Đã bỏ qua văn bản “Khoa học Xã hội” (trợ giúp); Đã bỏ qua văn bản “Module” (trợ giúp)
  2. ^ a b Giới thiệu khái quát về đạo Cao Đài
  3. ^ “-Phần I: Biểu Tổng hợp”. Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009. Tổng cục Thống kê Việt Nam. tr. 281. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2013.
  4. ^ “Sóo lieeju tín đồ các tôn giáo lớn”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2012.
  5. ^ “Đại lễ kỷ niệm 85 năm ngày hoằng khai ĐĐTKPĐ”. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2011.
  6. ^ Khác với cách cầu cơ của Đạo giáo, còn gọi là phương pháp cổ truyền, dùng Đại ngọc cơ, vốn giáng cơ qua bút tự của 2 người phò cơ; cách cầu cơ của Thông linh học, còn gọi là phương pháp tân thời, dùng bàn cơ (a table tournante), giáng cơ qua con trỏ từng chữ với sự hiệp lực của toàn bộ nhóm phò cơ.
  7. ^ Còn gọi là phố Hàng Dừa, nay là đường Cống Quỳnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. ^ AĂÂ là 3 chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái Quốc ngữ. A là chữ cái đầu tiên, tượng trưng đầu mối của vũ trụ vạn vật, tức Thái cực. Ă và Â là biến thể của A, biểu tượng cho Âm và Dương, tức Lưỡng nghi được sinh ra từ Thái cực. Vì vậy, danh hiệu AĂÂ được xem là Thái cực sinh ra càn khôn vũ trụ, biểu thị Thượng đế vô ngã (impersonal God).
  9. ^ Vị trí gần ngã 3 đường Général Leman với đường Nguyễn Tấn Nghiệm, nay là ngã 3 Cao Bá Nhạ và Trần Đình Xu.
  10. ^ Bộ đạo phục này ngày nay vẫn còn được thờ tại Thánh thất Tây Ninh.
  11. ^ Hoài Nhân, "40 năm lịch sử Ðạo Cao Ðài 1926-1966" trang 109, kể ra được 35 Chi phái. Dẫn theo Cao Đài Từ điển.
  12. ^ a b Bản Cải án Cao Đài, 3 tháng 5 năm 1982, Các chức sắc Cao Đài thuộc Toà Thánh Tây Ninh, 10/4/1982[liên kết hỏng]
  13. ^ "Bản tuyên dương công nghiệp ông Nguyễn Văn Thành", Tòa Thánh Tây Ninh, ngày 24 tháng 11 năm 1972.
  14. ^ [Đỗ Quang Hưng. "Recognition of Religious Organizations - A Comparative Approach: The Case of Vietnam". Religious Studies Rewview Vol 1, No 1, Jan 2007. Trang 10
  15. ^ Giáo hội là cơ cấu tổ chức, bộ máy hành chính của tôn giáo và cũng là cơ quan quyền lực của tôn giáo, trong đó tập trung ở một số người. Giáo hội là tổ chức pháp nhân, không chỉ quan hệ trong đạo mà còn là mối quan hệ xã hội. Hội thánh là nói về phần thiêng liêng, một tập hợp rộng rãi cả chức sắc và tín đồ có mối quan hệ trong đạo, mang tính chất tôn giáo thuần túy. Trên thực tế hai khái niệm này rất gần nhau, thậm chí ở một số tôn giáo, đôi khi được hiểu là một và sử dụng như nhau. (Nguyễn Cao Thanh, "Tìm hiểu tổ chức giáo hội và vấn đề pháp nhân tôn giáo". Ban Tôn giáo Chính phủ.
  16. ^ Theo định nghĩa của nhà nước Việt Nam, tư cách pháp nhân tổ chức tôn giáo khác với tư cách pháp nhân của tôn giáo. Theo quyền tự do tín ngưỡng, các tôn giáo hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, phù hợp với luật pháp Việt Nam, mặc nhiên được thừa nhận tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, một tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân mới được hoạt động hợp pháp về mặt tổ chức như: duy trì quan hệ trên dưới về mặt tổ chức, có quyền sử dụng tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật, tổ chức đại hội, hội nghị, mở trường đào tạo chức sắc, phong chức, điều chuyển chức sắc, in ấn xuất bản kinh sách, xây dựng nơi thờ tự...; duy trì các mối quan hệ dân sự với các tổ chức quan hệ với các tổ chức tôn giáo khác trong và ngoài nước, và tổ chức xã hội khác; chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của tổ chức tôn giáo mình.
  17. ^ Hội thánh Cao Đài Tây Ninh: Mở Đại hội Nhơn sanh giai đoạn 2007 – 2012, báo Tây Ninh[liên kết hỏng]
  18. ^ Đỗ Quang Hưng. "Recognition of Religious Organizations - A Comparative Approach: The Case of Vietnam". Religious Studies Rewview Vol 1, No 1, Jan 2007. Trang 10.
  19. ^ Cơ sở tiền thân hình thành thánh thất, vì không đủ số lượng tín đồ sinh hoạt.
  20. ^ Do Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh không tổ chức giáo hội.
  21. ^ Công nhận Giáo hội Cao Đài Việt Nam (Bình Đức)
  22. ^ Huỳnh Ngọc Thu, Đạo Cao Đài ở Nam Bộ Lưu trữ 2016-08-20 tại Wayback Machine.
  23. ^ Hương Hiếu, "Đạo sử", Quyển 2, tr. 237: 29-7-B.D. "Bản in Hoa Kỳ".
  24. ^ Nguyễn Văn Hồng, "Cao Đài Từ điển".

  • Ngô Văn, Việt Nam 1920-1945. Montreuil: L'Insomniaque/Chuông rè, 2000.
  • Nguyễn Văn Hồng, "Cao Đài Từ điển" 2003.
  • Tuổi Trẻ Đại Đạo
  • Cao Đài Đại Đạo Lưu trữ 2005-09-24 tại Wayback Machine
  • Đại Đạo Thanh Niên Hội
  • Centre for Studies in Caodaiism, Sydney
  • The British Cao Dai Community Lưu trữ 2008-01-17 tại Wayback Machine
  • Cao Đài site
  • http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/162/0/8236/Thanh_that_Cao_dai_Thu_do_ha_Noi_noi_khoi_nguon_hoat_dong_giao_luu_hanh_dao_cua_dao_Cao_dai_hien_nay
  • http://thanhthatcaodai.org/tinh-thanh/

Lấy từ “https://vi.wikipedia.org/w/index.php?title=Đạo_Cao_Đài&oldid=68740073”