Theo tác giả, thành công của thiên tài Edison đến từ những nguyên nhân nào

TRƯỜNG THPT CAO BÁ QUÁT

ĐỀ THI THỬ THPT QG

MÔN: NGỮ VĂN

NĂM HỌC: 2021-2022

(Thời gian làm bài: 120 phút)

I. PHẦN ĐỌC – HIỂU: (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Hỡi những bạn trẻ mà tôi yêu mến. Các bạn hoàn toàn có thể sống cuộc sống mà mình mong muốn. Thay vì sống cuộc sống cha mẹ các bạn muốn, cuộc sống mà xã hội cho rằng có tương lai, các bạn hoàn toàn có thể sống cuộc sống mình thực sự muốn sống, cuộc sống mà các bạn cho rằng có ý nghĩa với bản thân mình. Những người xung quanh sẽ ngăn cản bạn, nhưng họ đâu có thể sống thay cuộc sống của bạn? Khi bạn thấy mình yếu lòng và tự hỏi

“Thực sự sống như thế cũng được chăng?” hãy mỉm cười và trả lời “Có chứ!” Khi ta muốn đi con đường chưa ai đặt chân lên hoặc ít người biết đến, chuyện những người xung quanh ngăn cản ta là hết sức thường tình. Nhưng chỉ cần bạn quyết tâm tự mình cáng đáng mọi trách nhiệm đi kèm sự lựa chọn của mình thì bạn hoàn toàn có thể làm theo lời trái tim mách bảo và không cần phải quan tâm đến những gì người khác nói.

Tôi mong sao tất cả các bạn, dù chỉ một phút thôi, cũng có đủ dũng khí để làm chủ, tự nắm lấy tay lái điển khiển cuộc sống của mình, không phải sống cuộc sống chỉ lo đáp lại kỳ vọng của những người xung quanh. Các bạn hãy cố lên!

(Trích chương “Gửi những bạn trẻ tôi yêu mến”, sách “Yêu những điều không hoàn hảo” – Hae Min ; NXB Nhã Nam năm 2018, trang 131)

Câu 1. (0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn văn bản trên.

Câu 2. (0.5 điểm) Theo lý giải của tác giả, vì sao chúng ta không nên quá để tâm đến những lời ngăn cản của mọi người?

Câu 3. (1,0 điểm) Em hãy tìm một dẫn chứng về một người dám sống cuộc sống mà mình mong muốn, ngay cả khi cha mẹ, mọi người xung quanh ngăn cản họ. Tóm tắt ngắn gọn câu chuyện của họ trong vòng từ 3 – 4 câu.

Câu 4. (1,0 điểm) Em có đồng tình với quan điểm sau đây của tác giả: Chỉ cần bạn quyết tâm tự mình cáng đáng mọi trách nhiệm đi kèm sự lựa chọn của mình thì bạn hoàn toàn có thể làm theo lời trái tim mách bảo và không cần phải quan tâm đến những gì người khác nói không? Vì sao?

II. PHẦN LÀM VĂN: (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Anh/chị hãy viết đoạn văn ngắn, không quá 200 chữ để trả lời cho câu hỏi: “Tại sao chúng ta phải có dũng khí để làm chủ, tự nắm lấy tay lái điều khiển cuộc sống của mình”?

Câu 2. (5.0 điểm)

Phân tích vẻ đẹp hung bạo của dòng sông Đà qua tùy bút Người lái đò sông Đà của nhà văn Nguyễn Tuân.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 1

I. PHẦN ĐỌC – HIỂU: 

Câu 1. Phương thức biểu đạt: nghị luận

Câu 2. Lý do chúng ta không nên quá quan tâm đến những ngăn cản của mọi người xung quanh: Những người xung quanh sẽ ngăn cản bạn, nhưng họ đâu có thể sống thay cuộc sống của bạn, khi ta muốn đi con đường chưa ai đặt chân lên hoặc ít người biết đến, chuyện những người xung quanh ngăn cản ta là hết sức thường tình.

Câu 3.

– Học sinh lấy được ví dụ về những doanh nhân, danh nhân, nghệ sĩ… dám có bản lĩnh sống cuộc sống mà mình mong muốn/ tấm guong anh Nguyễn Ngọc Mạnh cứu em bé rơi từ tầng 12 và bản lĩnh của anh trước những thị phi từ mạng xã hội quanh sự việc.

– Tóm tắt ngắn gọn câu chuyện, không quá dài dòng, trả lời được 2 câu hỏi: ai? Như thế nào?

Câu 4. Học sinh tự do nêu quan điểm, có thể nêu theo 3 hướng:

– Đồng tình và giải thích được vì sao đồng tình

– Phản đối và giải thích được vì sao đồng tình

– Vừa đồng tình, vừa phản đối và giải thích được lí do trong mỗi yếu tố.

– Lưu ý: viết quá dài trừ 0.25 điểm

II. PHẦN LÀM VĂN: 

Câu 1. 

A. Yêu cầu kĩ năng:

– Biết cách làm đoạn văn nghị luận xã hội, bố cục rõ ràng, đầy đủ (mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn)

– Bài làm có từ 1-2 dẫn chứng cụ thể trong đời sống

– Diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

B. Yêu cầu kiến thức:

– Học sinh trình bày theo suy nghĩ riêng của mình. HS có thể trả lời đồng ý/ không đồng ý nhưng cần có những kiến giải hợp lí, thuyết phục.

– Gợi ý 1 hướng trả lời (những ý cần đạt):

+ Nguyên nhân khách quan:

  • Cuộc sống ngày càng thay đổi, đòi hỏi ta phải thích nghi. Ta chỉ thích nghi được khi ta tự làm chủ cuộc sống của mình.
  • Cha mẹ thường hay kì vọng vào con cái, có xu hướng sống hộ, lo hộ cho con. Ta phải tỉnh táo nhận ra để không có tư duy, thói quen sống ỷ lại, tâm lý trông chờ.

+ Nguyên nhân chủ quan: Khi ta làm chủ cuộc đời mình, ta mới có thể là con người tự do, được thỏa mãn nhu cầu là chính mình.

Câu 2. 

A. Yêu cầu kĩ năng: Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, ngôn ngữ diễn đạt lưu loát; không mắc lỗi chính tả, dùng từ và ngữ pháp.

B. Yêu cầu kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đạt được các yêu cầu về kiến thức sau đây:

I. Mở bài: Giới thiệu được tác phẩm Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và trích dẫn yêu cầu đề

II.Thân bài:

Khái quát về hình tượng sông Đà: được xây dựng với 2 cực tính cách đối lập: hung bao – trữ tình

1. Phân tích tính cách hung bạo của sông Đà

– Hung bạo của vách đá

– Hung bạo của mặt ghềnh

– Hung bạo của những hút nước trên sông

– Hung bạo của âm thanh thác nước

– Hung bạo của thạch trận sông Đà

2. Đánh giá nghệ thuật của nhà văn:

– Về nội dung: cái nhìn độc đáo về sông Đà, am hiểu sâu sắc nhiều lĩnh vực (đời sống, giao thông, quân sự, thể thao)

– Về nghệ thuật: Phong cách độc đáo của nhà văn

+ Hành văn linh hoạt, tài hoa

+ Nghệ thuật nhân cách hóa, so sánh đặc sắc, liên tưởng độc đáo

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 1 vui lòng xem online hoặc đăng nhập vào Học247 để tải về máy)—

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Cựu tổng thống Pakistan Ayub Khan từng nói: “Niềm tin cũng giống như sợi dây mảnh, đã đứt là khó nối”. Khi cha mẹ bắt đầu đối xử với đứa con bằng thái độ thiếu tin tưởng, dưới định kiến này của cha mẹ, trẻ nảy sinh tâm lí dễ nổi loạn, thậm chí làm những việc khiến cha mẹ thêm bất tín.

Khi thiên tài Edison 8 tuổi, ông từng đặt ra câu hỏi với giáo viên: vì sao 2 + 2 = 4? Vì câu hỏi này, ông bị giáo viên cho là chậm chạp, năng lực thấp. Tuy nhiên, mẹ Edison, người luôn tin tưởng con trai mình, đã luôn kiên nhẫn dạy dỗ cậu bé. Dưới sự dìu dắt của mẹ, Edison say mê đọc sách – thói quen này trở thành nền tảng cho những phát minh lớn trong tương lai của cậu. Nếu người mẹ tin vào lời giáo viên, tin rằng con trai mình là một đứa trẻ kém cỏi, thế giới sẽ không có vua của những phát minh sau này.

Một đứa trẻ tình nguyện giúp mẹ lau nhà, nhưng mẹ thay vì khuyến khích, lại nói: “Đừng kéo lê cái khăn nữa, con làm ướt nhẹp cả sàn”. Hoặc khi trẻ muốn rửa bát, bố cáu kỉnh: “Con đi đi, đừng động vào và làm vỡ bát”. Khi trẻ muốn thử nghiệm những thứ mới mẻ, bố mẹ đã tạt gáo nước lạnh: “Chưa đến tuổi làm việc đó, đừng phí thời gian”. Rõ ràng, cha mẹ đã kìm hãm sự tự tin của đứa trẻ, không tin tưởng vào năng lực của bé, làm hạn chế ham muốn học tập của bé. Theo thời gian, trẻ dần rơi vào cảm giác bất lực khi không thể được trải nghiệm, do sự kiểm soát bên ngoài. Khi gặp phải bất cứ việc gì, chúng sẽ tự khắc rụt lại, biến mình trở thành đáng thương, đúng như những lời bố mẹ chúng thốt ra.

Thế nên, sự tin tưởng con, để con được cảm nhận thực sự thấy tình yêu, sự tự do sẽ quan trọng hơn rất nhiều so với sự hài lòng về vật chất. Trong quá trình đó, cần chú ý ba điểm quan trọng: cho trẻ cơ hội tự giác, hiểu nguyên nhân, cho trẻ cơ hội được tin tưởng, luôn tin con là tốt nhất.

(Thùy Linh, Tác hại nhãn tiền khi thiếu tin tưởng con, dẫn theo https:// vnexpress.net).

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Theo bài viết, thành công của thiên tài Edison đến từ những nguyên nhân nào?

Câu 2. Theo bài viết, tác dụng của việc bố mẹ đặt niềm tin vào trẻ là gì?

Câu 3. Vì sao tác giả bài viết lại cho rằng: “Sự tin tưởng con, để con được cảm nhận thực sự thấy tình yêu, sự tự do sẽ quan trọng hơn rất nhiều so với sự hài lòng về vật chất”?

Câu 4. Anh/Chị có đồng ý với quan điểm “Niềm tin cũng giống như sợi dây mảnh, đã đứt là khó nối” được nhắc đến trong văn bản hay không? Vì sao?

II. PHẦN LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của bản thân về một số việc thanh niên cần thực hiện để tạo lòng tin cho người lớn.

Câu 2. (5,0 điểm)

Phân tích sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của nhân vật Mị trong đoạn trích sau:

Ngày Tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị .

Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cái cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường.

Anh ném pao, em không bắt

Em không yêu, quả pao rơi rồi…

 (Trích Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài, Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr.7-8)

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 2

I. PHẦN ĐỌC HIỂU

Câu 1. Theo bài viết, thành công của thiên tài Edison đến từ những nguyên nhân sau:

– Thói quen say mê đọc sách.

– Lòng tin tưởng và sự kiên nhẫn dạy dỗ của người mẹ.

Câu 2. Theo bài viết, tác dụng của việc bố mẹ đặt niềm tin vào trẻ là:

– Tăng thêm sự tự tin cho trẻ khi đứng trước những trải nghiệm mới mẻ.

– Phát huy ham muốn học tập của trẻ.

– Cho trẻ cơ hội được phát triển độc lập, tự do.

Câu 3. Tác giả bài viết cho rằng: “Sự tin tưởng con, để con được cảm nhận thực sự thấy tình yêu, sự tự do sẽ quan trọng hơn rất nhiều so với sự hài lòng về vật chất” vì:

– Mong muốn thực sự của con cái đối với bố mẹ không gì hơn tình yêu thương, sự tin tưởng thực sự và cho trẻ sự tự do cần có để phát triển.

– Hạnh phúc của một con người đến từ sự hài lòng về vật chất và sự thoải mái về tinh thần. Do vậy, nếu bố mẹ chỉ cho trẻ sự hài lòng về vật chất mà thiếu đi sự tin tưởng con, chưa cho con được cảm nhận thực sự tình yêu, sự tự do thì sẽ không đảm bảo được hạnh phúc cho trẻ.

Câu 4.

* Thí sinh được tự do nêu ý kiến của mình: Đồng ý hoặc không đồng ý với quan điểm “Niềm tin cũng giống như sợi dây mảnh, đã đứt là khó nối” được nhắc đến trong văn bản.

* Học sinh giải thích ý kiến của mình miễn hợp lí, thuyết phục. Có thể tham khảo gợi ý sau:

– Đánh giá: Ý kiến trên rất chính xác.

– Giải thích:

+ Niềm tin giữa người và người cần một quá trình lâu dài và rất khó khăn để hình thành nhưng rất dễ đánh mất.

+ Niềm tin là một yếu tố gắn với cảm xúc, khi niềm tin mất thì cảm xúc cũng không còn, những ấn tượng tốt đẹp sẽ phai nhạt dần rồi mất đi, khó có thể tìm lại được.

+ Mất niềm tin vào một đối tượng nào đó kéo theo sự tan vỡ quan hệ, thậm chí sụp đổ thần tượng; điều này rất khó có thể cứu vãn được.

(Lưu ý: Nếu chỉ nêu lý do mà không nêu ý kiến thì không cho điểm)

II. PHẦN LÀM VĂN

Câu 1. Trình bày suy nghĩ về: một số việc thanh niên cần thực hiện để tạo lòng tin cho người lớn.

a. Yêu cầu về hình thức:

– Viết đúng 01 đoạn văn, khoảng 200 chữ.

– Viết theo cấu tạo của đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp…

– Trình bày bố cục mạch lạc, rõ ràng.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: một số việc thanh niên cần thực hiện để tạo lòng tin cho người lớn.

c. Triển khai vấn đề nghị luận:

Triển khai vấn đề nghị luận thành một đoạn văn hoàn chỉnh, lôgic; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra được bài học cho bản thân. Sau đây là một số định hướng:

Trình bày suy nghĩ của bản thân về một số việc thanh niên cần thực hiện để tạo lòng tin cho người lớn:

–  Có thể tự lập ở một số việc: chăm sóc bản thân, đến trường, học bài, làm bài….

– Chủ động phụ giúp bố mẹ làm việc nhà, hoàn thành tốt những việc ấy một cách nhanh chóng, hiệu quả.

– Năng động trong những môi trường ngoài gia đình để bố mẹ đón nhận phản hồi tích cực về mình từ mọi người xung quanh.

—(Để xem tiếp đáp án phần Làm văn vui lòng xem online hoặc đăng nhập vào Học247 để tải về máy)—

PHẦN I: ĐỌC – HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi (từ câu 1 đến câu 4)

“… Đáng tiếc, hiện nay rất nhiều thanh niên lại vứt bỏ quyền lựa chọn tương lai của mình. Họ quen hoặc thích được người khác sắp xếp hơn, từ những việc nhỏ như thi vào trường đại học nào, học chuyên ngành gì, đến những chuyện lớn như đi đến đâu để phát triển sự nghiệp, lựa chọn ngành nghề nào, làm công việc gì.

Người khác có thể lựa chọn cho chúng ta phương hướng của cuộc sống nhưng không ai có thể chịu trách nhiệm đối với kết quả của cuộc đời chúng ta. Không phải họ không muốn mà là không thể chịu trách nhiệm, kể cả bố mẹ chúng ta.

…Giao tay lái chiếc xe cuộc đời mình vào tay người khác, chúng ta khó tránh được việc phải đóng vai hành khách. Kinh nghiệm của những người thành đạt cho chúng ta thấy: bất kì một cuộc sống lí tưởng, hạnh phúc, thành đạt nào, về cơ bản cũng đều được quyết định bởi những lựa chọn và hành động của chính bản thân họ…”

(Trích Bí quyết thành công của Bill Gates, Khẩm Sài Nhân, NXB Hồng Đức)

Câu 1: Chỉ ra những biểu hiện của việc nhiều thanh niên vứt bỏ quyền lựa chọn tương lai của mình được nêu trong đoạn trích?

Câu 2: Theo tác giả, kinh nghiệm của những người thành đạt cho chúng ta thấy điều gì?

Câu 3: Anh/Chị hiểu như thế nào về câu: “Giao tay lái chiếc xe cuộc đời mình vào tay người khác, chúng ta khó tránh được việc phải đóng vai hành khách”

Câu 4: Theo anh/chị, hiện tượng tác giả chỉ ra trong bài viết rất nhiều thanh niên lại vứt bỏ quyền lựa chọn tương lai của mình. Họ quen hoặc thích được người khác sắp xếp hơn có đúng với thực tễn ngày nay không? Vì sao?

PHẦN II: LÀM VĂN (6,0 điểm)

Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 3

Đọc hiểu

Câu 1. Những biểu hiện của việc nhiều thanh niên vứt bỏ quyền lựa chọn tương lai của mình được nêu trong đoạn trích:

Họ quen hoặc thích được người khác sắp xếp hơn, từ những việc nhỏ như thi vào trường đại học nào, học chuyên ngành gì, đến những chuyện lớn như đi đến đâu để phát triển sự nghiệp, lựa chọn ngành nghề nào, làm công việc gì.

Câu 2. Theo tác giả, kinh nghiệm của những người thành đạt cho chúng ta thấy: bất kì một cuộc sống lí tưởng, hạnh phúc, thành đạt nào, về cơ bản cũng đều được quyết định bởi những lựa chọn và hành động của chính bản thân họ.

Câu 3. Nếu để người khác điều khiển, sắp xếp, quyết định thay mình, ỷ lại, trông chờ vào người khác:

– Sẽ rơi vào thế bị động trên con đường đi đến tương lai của chính mình.

– Để lại hậu quả nặng nề.

Câu 4. 

– Học sinh trả lời đúng hoặc không đúng, hoặc chọn một cách trả lời phù hợp.

– Lý giải thuyết phục.

Làm văn

1. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề; Thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/đoạn văn; Kết bài liên hệ được vấn đề.

2. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Nhân vật Tràng trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

3. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: học sinh sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách nhưng cần làm rõ một số ý như sau:

* Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

– Giới thiệu khái quát về tác giả Kim Lân.

– Giới thiệu tác phẩm Vợ nhặt và nhân vật Tràng.

* Cảm nhận về nhân vật Tràng

– Bối cảnh của câu chuyện và tình huống nhặt vợ của Tràng.

– Lai lịch, ngoại hình: Nghèo, dân ngụ cư, xấu xí, thô kệch.

– Nghề nghiệp: kéo xe bò thuê

– Tính cách, phẩm chất:

+ Tràng là người hồn nhiên, vô tư: thích chơi đùa với trẻ con; “nhặt vợ” rất tình cờ và vu vơ chỉ sau một câu đùa và bốn bát bánh đúc.

+ Tràng là người nhân hậu, phóng khoáng: lấy vợ vì lòng thương đối với một con người đói khát hơn mình; Đưa người vợ nhặt vào chợ đãi một bữa no nê, mua cho Thị một cái thúng, mua 2 hào dầu thắp sáng đêm tân hôn.

+ Tràng là người biết trân trọng, nâng niu hạnh phúc mà mình bỗng dưng “nhặt” được: tự hào, sung sướng, trân trọng gọi người vợ nhặt là “nhà tôi”.

+ Sau đêm tân hôn: Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm với gia đình, với bản thân và khát khao sự đổi đời.

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 3 vui lòng xem online hoặc đăng nhập vào Học247 để tải về máy)—

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Sự trưởng thành là nhiệm vụ cá nhân và tạo ra môi trường cho mọi người trở nên trưởng thành là nhiệm vụ của gia đình, trường học, xã hội. Trưởng thành là một quá trình thay đổi về tư duy lẫn nhận thức, nó không liên quan tới tuổi tác hay môi trường sống cũng không liên quan tới ngoại hình hay vật chất bên ngoài. Có người trưởng thành rất sớm nhưng có người chỉ lớn xác mà không bao giờ chịu trưởng thành.

Mục tiêu đầu tiên của đàn ông nên là trở thành người trưởng thành thay vì thành đạt hay quyền lực. Các cô gái cũng vậy, muốn lấy được tấm chồng tốt cũng nên đặt tiêu chí tìm người trưởng thành làm gốc. Cha mẹ nên mong và tạo điều kiện cho con cái trưởng thành thay vì để chúng là những đứa con lớn xác biết nghe lời. Bởi vì vâng lời hay ngoan hiền không có nghĩa là trưởng thành.

Dù trọng tâm cuộc sống của bạn đã và đang đặt ở đâu: vật chất, danh vọng, quyền lực, gia đình, người yêu… hãy tạm gác lại và ưu tiên vào bản thân mình trước. Hãy biến mình trở thành người trưởng thành, một cây cao có tán lá sum sê và bộ rễ vững chãi, có vậy mới không có cơn bão nào quật ngã, chim muông sẽ đến dưới tán lá trú ngụ và bạn sẽ không còn cảm thấy chông chênh…

(Trích sách Sống như ngày mai sẽ chết – Phi Tuyết – Nxb Thế Giới, 2017)

Đọc văn bản trên và thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 2. Theo tác giả, trưởng thành là gì? (0,75 điểm)

Câu 3. Anh/chị hiểu câu “vâng lời hay ngoan hiền không có nghĩa là trưởng thành” như thế nào? (0,75 điểm)

Câu 4. Anh/chị có đồng tình với quan điểm Có người trưởng thành rất sớm nhưng có người chỉ lớn xác mà không bao giờ chịu trưởng thành hay không? Vì sao? (1,0 điểm)

Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ bàn về ý nghĩa sự trưởng thành của con người trong cuộc sống.

Câu 2. (5,0 điểm)

Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài viết:

“Lúc ấy đã khuya. Trong nhà ngủ yên, thì Mị trở dậy thổi lửa. Ngọn lửa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại. Nhìn thấy tình cảnh như thế, Mị chợt nhớ lại đêm năm trước A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nhiều lần khóc, nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Trời ơi, nó bắt  trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở cái nhà này. Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết. A Phủ … Mị phảng phất nghĩ như vậy.

Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị không thổi, cũng không đứng lên. Mị nhớ lại đời mình, Mị lại tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu A Phủ chẳng đã trốn được rồi, lúc ấy bố con Pá Tra sẽ bảo là Mị đã cởi trói cho nó, Mị liền phải trói thay vào đấy, Mị phải chết trên cái cọc ấy. Nghĩ thế, trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…

Lúc ấy, trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại…Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ bỗng khuỵu xuống, không bước nổi. Nhưng trước cái chết có thể đến nơi ngay, A Phủ lại quật sức vùng lên, chạy.

Mị đứng lặng trong bóng tối.

Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc, Mị nói, thở trong hơi gió thốc lạnh buốt:

– A Phủ cho tôi đi

A Phủ chưa kịp nói, Mị lại nói:

– Ở đây thì chết mất”.

(Trích Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài, Ngữ văn 12, tập hai, Nxb GD, 2008, tr.13,14)

Cảm nhận của anh/chị về diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đoạn trích trên.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 4

Phần I. Đọc hiểu

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính : Nghị luận

Câu 2. Theo tác giả, trưởng thành là một quá trình thay đổi về tư duy lẫn nhận thức, nó không liên quan tới tuổi tác hay môi trường sống cũng không liên quan tới ngoại hình hay vật chất bên ngoài. Nó giúp chúng ta có cái nhìn tích cực hơn là tiêu cực, nó là những suy nghĩ không còn trẻ con, bướng bỉnh. Và sự trưởng thành ấy có sự ảnh hưởng của gia đình, trường học và xã hội.

Câu 3. Hiểu câu “vâng lời hay ngoan hiền không có nghĩa là trưởng thành”:

– Một đứa trẻ vâng lời vì muốn hài lòng bố mẹ mà làm mọi thứ cha mẹ chúng dạy bảo. Lâu dần, việc vâng lời trở thành thói quen khiến chúng chôn giấu cảm xúc và suy nghĩ thật của mình.

– “Ngoan hiền” là một trong cách ứng xử có văn hoá, nhưng để có một cuộc sống tốt đẹp thực sự, những đứa trẻ đôi khi sẽ cần có thêm cá tính mạnh mẽ.

-> Một đứa trẻ vâng lời hay ngoan hiền không chứng minh đó là sự trưởng thành.

– Trưởng thành đúng nghĩa là khi ta lớn lên cả tư duy lẫn nhận thức, dám sống, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước mọi vấn đề của bản thân và hướng đến những điều tốt đẹp để sống, chứ không phải lúc nào cũng nghe lời bố mẹ một cách thụ động mà bỏ qua suy nghĩ thật của mình.

Câu 4.

* Thí sinh có thể trả lời đồng tình, hoặc không đồng tình miễn là có lí giải hợp lí.

* Đề xuất phương án trả lời:

– Đồng tình với ý kiến: Có người trưởng thành rất sớm nhưng có người chỉ lớn xác mà không bao giờ chịu trưởng thành

– Bởi vì: không có giới hạn nào cho độ tuổi trưởng thành cả. Con người sẽ trưởng thành từ rất sớm nếu có được những trải nghiệm hay cọ xát, va đập với thực tế cuộc sống. “Người lớn” chưa trưởng thành, tức là lớn về mặt sinh học, nhưng không đủ kỹ năng để tự sống hay lo cho bản thân, thiếu chín chắn về nhận thức, biến mình thành một nỗi lo cho phụ huynh và xã hội. Chính vì vậy, mỗi chúng ta hãy học cách đương đầu với những thử thách cuộc sống, tự nâng cao nhận thức để “biến mình trở thành người trưởng thành”, mạnh mẽ hơn, dày dặn kinh nghiệm hơn.

– Tuy nhiên, hiện nay, một bộ phận nhỏ các bạn trẻ chưa hiểu hết ý nghĩa của sự trưởng thành, họ thụ động, trông chờ, ỷ lại…Những người như họ cần phải thay đổi và điều chỉnh…

* Thí sinh có thể trả lời phương án khác miễn là lí giải hợp lí.

II. LÀM VĂN

Câu 1. Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về ý kiến được nêu trong đề.

1.1. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, qui nạp, móc xích, song hành hoặc tổng – phân – hợp.

1.2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Bàn về ý nghĩa sự trưởng thành của con người trong cuộc sống.

1.3. Triển khai vấn đề nghị luận thành đoạn văn hoàn chỉnh; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.

* Giải thích

Trưởng thành là sự “lớn lên”, chín chắn về mặt nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, không đơn thuần là lớn lên về thể xác bên ngoài.

* Bàn luận

– Ý nghĩa sự trưởng thành của con người trong cuộc sống:

+ Để trưởng thành, con người phải trải qua những nghịch cảnh, những khó khăn trong cuộc sống. Từ đó, trưởng thành giúp con người tự tin, tự lập, sống có ý nghĩa, sống có ích.

+ Quá trình trưởng thành giúp con người trở nên rắn rỏi hơn, nhận ra được những lỗi lầm của mình, đối diện với những khó khăn, thất bại, cố gắng sửa chữa và hoàn thiện bản thân từng ngày một.

+ Sự trưởng thành giúp mỗi người mở mang thêm tri thức và kinh nghiệm.

+ Sự trưởng thành giúp ta cảm nhận tình yêu thương của người thân yêu trong gia đình, sự chia sẻ khó khăn với những người khác, làm ta biết gắn bó với mọi người xung quanh.

(HS lấy dẫn chứng để làm rõ ý nghĩa của sự trưởng thành)

* Bài học nhận thức và hành động 0,25

+ Về nhận thức: phải hiểu giá trị của trưởng thành để có niềm tin vào cuộc sống.

+ Về hành động: bản thân độc lập trong suy nghĩ và hành động, biết trải nghiệm cuộc sống, rèn bản lĩnh, sống đồng cảm và sẻ chia…

1.4. Chính tả, dùng từ, đặt câu

Đảm bảo qui tắc chính tả, dùng từ, đặt câu

1.5. Sáng tạo

Có cách diễn đạt sáng tạo, mới mẻ và sâu sắc về vấn đề nghị luận.

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 4 vui lòng xem online hoặc đăng nhập vào Học247 để tải về máy)—

I. ĐỌC – HIỂU: (3,0 điểm)

Bạn không nên để thất bại ngăn mình tiến về phía trước. Hãy suy nghĩ tích cực về thất bại và rút ra kinh nghiệm. Thực tế những người thành công luôn dùng thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân. Họ có thể nghi ngờ phương pháp làm việc đã dẫn họ đến thất bại nhưng không bao giờ nghi ngờ khả năng của chính mình.

Tôi xin chia sẻ với các bạn câu chuyện về những người đã tìm cách rút kinh nghiệm từ thất bại của mình để đạt được những thành quả to lớn trong cuộc đời.

Thomas Edison đã thất bại gần 10.000 lần trước khi phát minh thành công bóng đèn điện, J.K.Rowling, tác giả của “Harry Poter”, đã bị hơn 10 nhà xuất bản từ chối bản thảo tập 1 của bộ sách. Giờ đây, bộ tiểu thuyết này của bà trở nên vô cùng nối tiếng và đã được chuyển thể thành loạt phim rất ăn khách. Ngôi sao điện ảnh Thành Long đã không thành công trong lần đóng phim đầu tiên ở Hollywood. Thực tế bộ phim Hollywood đầu tay của anh, thất vọng lắm chứ, nhưng điều đó cũng đâu ngăn được anh vùng lên với những phim cực kì ăn khách sau đó như “Giờ cao điểm” hay “Hiệp sĩ Thượng Hải”.

Thất bại không phải cái cớ để ta chần chừ. Ngược lại nó phải là động lực tiếp thêm sức mạnh để ta vươn tới thành công.

      (Trích Tại sao lại chần chừ?, Tác giả Teo Aik Cher, Người dịch: Cao Xuân Việt Khương, An Bình, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr 39, 40)

Câu 1: (0,5 điểm) Chỉ ra mặt tích cực của thất bại mà “người thành công luôn dùng” được nêu trong đoạn trích.

Câu 2: (0,5 điểm) Việc tác giả trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long có tác dụng gì?

Câu 3: (1,0 điểm) Theo anh/chị, “suy nghĩ tích cực về thất bại” được hiểu là gì?

Câu 4: (1,0 điểm) Anh/Chị có cho rằng trong cuộc sống thất bại “là động lực tiếp thêm sức mạnh để ta vươn tới thành công.” không? Vì sao?

II. LÀM VĂN: (7,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc- hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về bản thân cần chấp nhận sự thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống ?

Câu 2: (5,0 điểm)

Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, nhà văn Tô Hoài hai lần miêu tả nhân vật Mị ở nhà thống lí Pá Tra:

Lần thứ nhất “… Lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Nhưng Mị cũng không còn tưởng đến Mị có thể ăn lá ngón tự tử nữa. Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa… Mị cúi mặt, không nghĩ ngợi nữa, mà lúc nào cũng chỉ nhớ đi nhớ lại những việc giống nhau, tiếp nhau vẽ ra trước mặt, mỗi năm mỗi mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp, và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày.

Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Ở cái buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng. Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi…”.

Lần thứ hai “… Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi  người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng… Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi…

Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách…”.

(Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài; Ngữ văn 12, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2015).

Phân tích nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự thay đổi của nhân vật này.

—- HẾT —-

ĐÁP ÁN ĐỀ SỐ 5

I. ĐỌC – HIỂU

Câu 1. Mặt tích cực của thất bại mà “người thành công luôn dùng” được nêu trong đoạn trích:

– Những người thành công luôn dùng thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân.

– Họ có thể nghi ngờ phương pháp làm việc đã dẫn họ đến thất bại nhưng không bao giờ nghi ngờ khả năng của chính mình.

Câu 2. Việc tác giả trích dẫn các câu chuyện của Thomas Edison, J.K.Rowling, Ngôi sao điện ảnh Thành Long có tác dụng:

– Tăng sức thuyết phục đối với người đọc.

– Khẳng định ai thành công cũng phải trải qua thất bại. Nhưng khi thất bại họ không gục ngã, bi quan mà luôn kiên trì cố gắng và họ đã thành công.

Câu 3. Suy nghĩ tích cực về thất bại” có thể hiểu là:  Khi thất bại không nản lòng, từ trong thất bại rút ra bài học, kinh nghiệm cho bản thân. Coi thất bại như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân; là động lực tiếp thêm sức mạnh để vươn tới thành công.

Câu 4. HS có thể đồng tình hoặc không đồng tình với ý kiến, miễn là lí giải hợp lí thuyết phục.

(Đồng tình/ không đồng tình: 0,25 điểm. Lí giải ý kiến hợp lí: 0,75 điểm)

II. LÀM VĂN

Câu 1. Từ nội dung đoạn trích phần Đọc-hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về bản thân cần chấp nhận sự thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống.

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn

Học sinh có thể trình bày đoạn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. Viết sai hình thức đoạn văn trừ 0,25 điểm.

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Con người cần chấp nhận thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống.

c. Triển khai vấn đề nghị luận:

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề cần nghị luận theo nhiều cách nhưng phải làm rõ: Con người cần chấp nhận thất bại như thế nào để thành công trong cuộc sống .Có thể theo hướng sau:

* Giải thích 

– Thất bại: là hỏng việc, là không đạt được kết quả, mục đích như dự định; Thành công: là đạt được kế hoạch mục tiêu mình đã đề ra ban đầu.

– Trong hành trình để đi đến thành công không tránh khỏi những vấp ngã, thất bại. Nhưng quan trọng nhất ta phải suy nghĩ tích cực về thất bại thì mới có thể thành công.

* Bàn luận:

Thái độ của chúng ta trước thất bại:

– Chúng ta cần có suy nghĩ tích cực về thất bại. Coi thất bại  như là một công cụ để học hỏi và hoàn thiện bản thân.

– Cần bình tĩnh để tìm hiểu nguyên nhân của sự thất bại. Rút ra bài học từ những thất bại đã qua để tiếp tục thực hiện công việc và ước mơ của mình.

– Dám đối mặt chấp nhận thất bại, không né tránh sự thật, cũng không đổ lỗi cho người khác, cho hoàn cảnh.

– Biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, không chán nản và lùi bước trước thất bại.

– Phê phán những con người sống thụ động, tiêu cực, dễ đầu hàng số phận, khi thất bại thì gục ngã hay luôn đổ thừa cho hoàn cảnh.

* Bài học nhận thức và hành động

—(Để xem đầy đủ nội dung của Đề thi số 5 vui lòng xem online hoặc đăng nhập vào Học247 để tải về máy)—

Trên đây là một phần trích đoạn nội dung Bộ 5 đề thi thử THPT QG môn Ngữ văn năm 2021-2022 Trường THPT Cao Bá Quát. Để xem thêm nhiều tài liệu tham khảo hữu ích khác các em chọn chức năng xem online hoặc đăng nhập vào trang Hoc247.net để tải tài liệu về máy tính.

Hy vọng tài liệu này sẽ giúp các em học sinh ôn tập tốt và đạt thành tích cao trong học tập.

Chúc các em học tập tốt !